Những năm 1700
New Wolrd những năm 1700 đang còn thịnh trị chế độ nô lệ. Tầng lớp chủ nô đối xử hà khắc và man rợ, coi những người nô lệ của mình không bằng loài vật, nhất là những người thuộc bộ lạc Tây Phi bị xiềng xích và đem bán như những đồ vật rẻ tiền. Những người nô lệ Tây Phi phải lao động nhọc nhằn, sinh hoạt trong điều kiện cực nhục, bị nghiêm cấm cả việc trò chuyện và tụ tập đông đúc.
Để phản kháng chế độ bất công và giải toả mối uất hận tinh thần, họ tìm đến âm nhạc. Chính âm nhạc đã trở thành phương tiện cứu cánh trong đời sống cơ cực bần hàn của những người nô lệ da đen Tây Phi. Họ giao lưu và chuyển tải những thông tin bí mật bằng âm nhạc, và trên hết, nghệ thuật âm nhạc là phương cách hữu hiệu để họ giải toả nỗi niềm, tâm tư, tình cảm, nỗi buồn tha hương và khát vọng tự do của mình.
Những tập tục văn hóa và âm nhạc truyền thống Tây Phi theo chân những người nô lệ góp mặt tại New Wolrd, tại “Thế giới mới” này: đó là những câu hò đối đáp khi lao động, là những câu chuyện truyền khẩu do một người khởi xướng và đám đông hưởng ứng, là những giai điệu buồn mênh mang của những bài dân ca tôn giáo có tên gọi là Spiritual, trái ngược với những giai điệu thê lương là những tiết tấu mạnh mẽ sôi động, dữ dội của những nhạc khí gõ trong vũ điệu lễ hội.
Dần dần sinh hoạt văn hóa của những người nô lệ Tây Phi trở thành một phần nền tảng của nghệ thuật âm nhạc châu Mỹ, được biết dưới tên gọi nhạc jazz.
Vào những năm 1800
Nước Mỹ được xem là “vùng đất hứa”. Dân châu Âu đổ xô đến miền đất xa lạ này với hy vọng tìm kiếm cơ may làm giàu để đổi đời. Và thế là, những phong tục tập quán trong sinh hoạt văn hóa của các dân tộc châu Âu cũng “di cư” cùng họ tới đất Mỹ xa xôi.
Các thành phố và bến cảng ở Mỹ vang lên không ngớt những điệu nhảy Quadrille của người Pháp, điệu nhảy cuồng nhiệt Flamenco của người Tây Ban Nha, điệu Jig vui nhộn, ngộ nghĩnh của người Ailen, điệu Valse thanh lịch, quý phái của dân tộc Đức… Và chính phong cách “đa quốc gia” ảnh hưởng sâu đậm lên nền âm nhạc Mỹ.
Xu hướng kết hợp hai nền âm nhạc châu Phi và châu Âu rất được ưa chuộng. Cuộc hôn phối âm nhạc này cho ra đời loại nhạc mới gọi là "Ragtime”, đó là sự phối hợp tài tình giữa giai điệu du dương và mênh mang buồn của cộng động người da đen với phong cách nhạc nhảy sôi nổi từng bừng có cấu trúc mạch lạc, khúc triết của các dân tộc da trắng châu Âu. Chiếc nôi đón nhận sự ra đời của Ragtime là Missouri. Những năm cuối thế kỷ 19 rất nhiều nhạc sỹ đến Missouri để phát triển và hoàn thiện tài danh âm nhạc của mình. Một trong những nhà soạn nhạc Ragtime thành công là Scott Joplin.
Cũng từ truyền thống nhạc Spizitual, dòng nhạc Blues bắt đầu hình thành khoảng đầu những năm 1890. Qua phong cách Blues các ca sỹ mặc sức phô diễn khả năng giọng hát của mình tới tận cùng để lột tả sức sống mãnh liệt của nội tâm và sự sâu thẳm của các trạng thái xúc cảm.
Những năm 1900
Bến cảng New Orleans đón nhận âm nhạc của tất cả các dân tộc đến đây nhập cư. Trước tiên phải kể đến người Pháp, họ là những người khai phá và thành phố New Orleans là thuộc địa của Pháp vào những năm 1700. Sau đó một thời gian nó thuộc quyền cai trị của Tây Ban Nha. Tới đầu thế kỷ 19 thành phố tiếp tục đón nhận những kẻ đi khai phá đến từ Anh Quốc, Ailen, Scotlen, Đức và Ý..
Cư dân ở New Orleans có nguồn gốc từ nhiều nền văn hóa khác nhau hội tụ lại. Sự giao thoa giữa các nền âm nhạc cho ra đời một thể loại âm nhạc mới gọi là “Jazz”. Tên gọi “Jazz” chính thức xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 20. Nhạc Jazz bao gồm nhạc Mỹ gốc châu Phi hòa quyện với nhạc dân tộc các nước châu Âu, cùng với nhạc Blues, nhạc Rigtime, nhạc nhà binh và một số thể loại khác tạo nên.
Những năm 1920
Sau 2 thập niên, một thế hệ mới đến tuổi trưởng thành. Những thanh niên này dịch chuyển lên phương Bắc nhằm tìm kiếm những cơ hội mới tại các thành phố như Chicago, New York. Nhạc Blues và nhạc Jazz là những “hành trang văn hóa” mà họ mang theo bắt đầu lan tỏa tại các thành phố phương Bắc nước Mỹ.
Tâm lý giới trẻ có nhiều chuyển biến phức tạp sau những năm đại chiến thế giới thứ nhất. Họ phản đối những quan điểm cổ điển của thế hệ cha mẹ. Các hộp đêm mọc lên như nấm. Thanh niên đắm mình trong những điệu Blues và Jazz sinh động và cuồng nhiệt. Cải cách trang phục được các cô gái nhiệt liệt tán thưởng, mốt cắt tóc ngắn với những chiếc váy ngắn cũn cởn như một thách thức nổi loạn, phản kháng của giới trẻ với những “cấm kỵ” xưa cũ.
Sự suy thoái của chiến tranh không kéo dài. Sau những năm 20, nền kinh tế được cải thiện và có chiều hướng phát triển nhanh chóng. Lần đầu tiên máy quay đĩa hát và máy thu thanh tràn ngập thị trường. Nhạc Jazz thoát khỏi địa vị thấp kém, xoàng xĩnh trong các hộp đêm rẻ tiền, góp tiếng nói trên làn sóng của đài phát thanh, và góp mặt trong các vũ trường và khách sạn sang trọng.
Những năm 1930
Nước Mỹ rơi vào khủng hoảng tài chính trầm trọng. Đời sống người dân hết sức khó khăn. Điều kiện giải trí theo sở nguyện bị xếp xó. Radio trở thành phương tiện hầu như duy nhất giữ vai trò trung tâm giải trí. Mọi người đành thoả mãn đam mê âm nhạc bằng cách nhún nhảy, khiêu vũ theo những điệu Jazz vang lên êm dịu và uyển chuyển được phát trên đài gọi là “Big band swing”. Swing là những điệu nhạc phổ biến nhất thập niên 1930 - 1940. Sức hấp dẫn của Swing giúp người dân giải trí một cách nhẹ nhàng và quên đi phần nào những cực nhọc vất vả của thời kỳ “đại suy thoái”.
Trong những năm này, ở một thành phố khác của Mỹ, thành phố duy nhất dường như thoát khỏi thời kỳ “đại suy thoái” - Kansas - tiền bạc chảy vào những chốn ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, ma túy. Cuộc sống về đêm ở những chốn này trở thành nguyên nhân để nhạc Jazz được ưa chuộng. Một thứ nhạc Swing buông thả và tự nhiên chủ nghĩa trở nên quyến rũ trong những hộp đêm nhan nhản khắp thành phố. Kansas hút các nhạc sỹ nhạc Jazz thất nghiệp ở nơi khác về đây kiếm sống, vì thế chẳng bao lâu sau, đời sống của nhạc Jazz ở Kansas trở nên sôi động không kém gì New York hay Chicago.
Những năm 1940
Đại chiến thế giới thứ 2, hàng triệu người Mỹ gốc Phi bị tổng động viên ra mặt trận và đầu quân vào phục vụ trong quân đội. Nạn phân biệt chủng tộc và ngược đãi người da đen xảy ra khắp nơi và trên mọi phương diện, kể cả trong âm nhạc: những nghệ sỹ Jazz tài năng người da đen bị thất sủng, các ban nhạc Jazz của người da trắng được thành lập.
Những năm 1950
Chuyển sang thập niên 50, những phương tiện giải trí của người Mỹ chuyển hướng qua truyền hình và phim ảnh. Nhạc Jazz đối diện với sự cạnh tranh mới, các phòng khiêu vũ còn lại không nhiều, nhường chỗ cho chương trình truyền hình Milton Berle giới thiệu Elvis Presley với thể loại mới hơn ”Rock'n' roll”ra đời, được thế hệ trẻ đón nhận sôi nổi.
Những năm 1960 về sau
Trong suốt những năm 60, phong trào đòi nhân quyền của những người Mỹ gốc Phi nổi dậy khắp nước Mỹ. Các công ty sản xuất đĩa nhạc và các câu lạc bộ của người da trắng đã khống chế sự phát triển nghệ thuật và nguồn thu nhập tài chính của những người da đen. Một số nghệ sỹ da đen tách ra hoạt động tự do, tiếp tục cho ra đời những thứ âm nhạc phức hợp, mạnh mẽ, sinh động và dần dần đưa nhạc Jazz đi theo những hướng mới.
Sau thập niên 60, nhạc Jazz phát triển mạnh, có sức lan toả ra toàn cầu như một loại nhạc đại diện cho tự do. Sự cộng sinh kết hợp với sự chuyển hóa đã khoác lên mình nhạc Jazz tấm áo choàng mới, số phận mới, địa vị mới, nhạc Jazz đón nhận vị trí xứng đáng hơn và trở thành một hình thức nghệ thuật có tầm vóc quốc tế…
Số phận của một loại hình thức nghệ thuật có thể biến động không ngừng. Tìm cách phân loại và định nghĩa chúng thường tỏ rõ sự hạn chế và thiếu chính xác. Thêm vào đó, “tên hiệu” có thể giới hạn sự chọn lựa và đem lại sự mỏi mệt cho chúng ta. Nên chăng, hãy thưởng thức và học hỏi thứ nghệ thuật làm bạn đam mê bằng nhiều cách và các phương tiện khác nhau!
PGS TS Nguyễn Minh Cầm