Những năm trước 75, học sinh trung học chúng tôi vẫn say sưa hát những bài hát hừng hực lửa đấu tranh, kêu gọi hòa bình… - những bài hát đã đốt lên trong tim bao lứa sinh viên học sinh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam ngọn lửa yêu nước, nung nấu ý chí căm thù giặc ngoại xâm.
Khi ấy, những ca khúc như “Hát cho dân tôi nghe”, “Xuống đường”, “Hát trong tù”, hợp xướng “Lúa reo trên khắp đồng bằng”... đã được cất cao trên các nẻo đường tranh đấu của học sinh, sinh viên các đô thị miền Nam. Tôn Thất Lập là một gương mặt nổi bật trong số những nhạc sĩ viết nên những bài hát mang giá trị lịch sử.
Những ngày cuối tháng tư này, trong xôn xao bao hồi ức, bao hoài niệm, người ta không thể không nhớ đến những ca khúc hào hùng ngày nào. Chúng tôi tìm đến Hội Âm Nhạc TPHCM, với mục đích muốn nghe vị Phó Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc TP kể về những kỷ niệm của mình vào thời điểm tháng 4 – 75.
NS Tôn Thất Lập: Thời điểm ấy tôi đang ở bên Pháp. Từ năm 1974, tôi cùng Luật sư Nguyễn Long và Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Võ Như Lanh được các tổ chức của Pháp mời sang Pháp, đa phần là những tổ chức Công giáo – họ đấu tranh cho hòa bình Việt Nam. Lúc ấy tôi là Chủ tịch Hội Sinh viên Sáng tác thuộc Tổng hội sinh viên Sài Gòn. Chúng tôi đã cùng phối hợp và họat động với họ, đấu tranh đòi hòa bình, đòi thả tù nhân chính trị ở miền Nam, đòi quyền dân sinh dân chủ...
Năm 1974, tôi được Hội sinh viên Sáng tác hải ngoại giúp xuất bản quyển “Những cánh chim từ vùng lửa đỏ”. Năm 1974, Đại hội Sinh viên Việt Nam tại hải ngoại lần thứ nhất đã được tổ chức tại Pháp. Sinh viên Việt Nam ở các nước Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Ý… đã đến tham dự, nhằm mục đích thống nhất hành động giữa SV trong nước và SV hải ngoại, chung sức đấu tranh đòi hòa bình, kêu gọi chấm dứt chiến tranh.
Từ ngày 8/1/1975 đến ngày 2/2/1975, cả 3 chúng tôi được các tổ chức quốc tế ở Canada và Bỉ mời sang. Chúng tôi được mời đến dự các buổi mit-tinh của sinh viên các trường đại học của các tiểu bang Canada. Chúng tôi đã nói chuyện và họat động âm nhạc nhằm mục đích đòi hòa bình ở VN. Chúng tôi cũng được mời sang Mỹ dự một vài cuộc mit-ting, nhưng khi đến biên giới thì họ ngăn không cho qua, chúng tôi phải về Pháp và dùng telephone gọi sang để trao đổi và trình bày ý kiến của mình. Hồi ấy, có mấy tờ báo của pháp có viết bài về chúng tôi.
- Ở bên Paris, nhạc sĩ đã cảm nhận về ngày 30 tháng 4 như thế nào?
- Sáng sớm ngày 30/4 (tức vào khoảng 11 giờ trưa VN), tôi nhận được cú điện thoại của soeur Francoise Vandermeersch, bà là một thành viên của tổ chức Công giáo yêu hòa bình, bà gọi để chúc mừng Việt Nam chiến thắng. Lúc đó tôi cảm thấy thật sung sướng và hạnh phúc. Ngay trong tối hôm ấy tôi viết xong bài hát mới: “Hướng về quê hương độc lập”.
- Không khí của bà con người Việt mình ở Pháp lúc ấy ra sao?
- Từ chiều ngày 30/4 và ngày 1/5, trên các trạm metro, tôi thấy rất nhiều người cầm những cành hoa muget trắng, loại hoa mà các cụ già, em bé thường hay đem bán để lấy tiền gây quỹ giúp VN. Người bán muốn ủng hộ VN và người mua là để bày tỏ sự ủng hộ VN. Một cuộc mit-ting lớn để mừng VN chiến thắng đã được Mặt trận giải phóng đứng ra tổ chức. Nhân dân lao động Pháp và các tổ chức chính trị đã tham dự. Họ không chỉ tham dự, hát bài Quốc tế ca, mà còn cùng kiều bào đi diễu hành qua các đại lộ Paris. Ở đấy, chúng tôi đã hát vang bài Giải phóng miền Nam.
Tối 1.5, ngừơi Việt tại Pháp đã tổ chức một đêm văn nghệ sôi nổi khí thế tại nhà hát quốc gia Pháp. Tôi và nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đã cùng song ca bài “Hướng về quê hương độc lập” mà tôi mới vừa viết. Anh Đạo là một nhạc sĩ nổi tiếng ở Pháp. Một tuần sau, tôi gửi bài này về VN. Bài hát đã được đăng trên báo Nhân Dân, được đài Tiếng nói VN thu và phát sóng.
- Ở Pháp anh có tranh thủ theo học thêm một khóa nhạc nào không? Đến khi nào anh mới về VN?
- Khi sang Pháp, các tổ chức này đã cấp cho chúng tôi mấy suất học bổng. Ngòai việc hoc tiếng Pháp, tôi có ghi danh hệ tự do vào khoa âm nhạc trường đại học Sorbon, nếu học hết 2 năm thì có thể trình luận án Thạc sĩ, nhưng lúc ấy mình chỉ lo đi tham gia họat động phong trào vì hòa bình chứ đâu có lo học.
Các tổ chức của Pháp đã giữ chúng tôi lại. Đến tháng 8/75, tôi mới về Việt Nam. Ngày 15/8/1975, khi Sở Văn hóa Thông tin được thành lập, tôi về Sở và làm công tác ở Sở cho đến ngày nghỉ hưu.
- Trong những sáng tác sau này của nhạc sĩ, bài “Trị an âm vang mùa xuân” được nhiều người yêu thích và được các thí sinh chọn thi trong các cuộc hội diễn hoặc thi giọng hát hay. Bài này âm vực rộng và không dễ hát chút nào, nhưng với những thí sinh có giọng ca tốt thì tha hồ khoe chất giọng…
- Đấy là bài mà tôi rất tâm đắc. Đất nước sau ngày giải phóng gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống người dân khá chật vật nghèo đói, Thủ tướng Võ Văn Kiệt thời ấy đã suy nghĩ và tìm những phương cách đột phá để giúp VN thóat nghèo. Và một trong những công trình mang tính bức phá là xây dựng thủy điện Trị An. Hồi đó đường vào Trị An còn là đường rừng, đến nơi nghe thấy tiếng thác nước reo và mơ đến ngày dòng điện sáng, tôi thấy lòng thật nhiều cảm xúc. Sau khi tham dự lễ khởi công, ngay tối hôm ấy tôi đã viết xong “Trị An âm vang mùa xuân”.
- Nhắc đến Tôn Thất Lập là ngừơi ta thường nghĩ đến những tác phẩm hừng hực khí thế như vậy, nhưng dường như nhạc sĩ cũng rất ưu ái cho dòng tình ca sâu lắng?
- Âm nhạc xuất phát từ sự rung động của trái tim và tâm hồn của con người. Trước khi đến với dòng nhạc đấu tranh, phản chiến tôi đã viết tình ca. Bài hát đều tiên tôi viết năm 1958, là bài “Bằng tên một lòai hoa”, phổ từ bài thơ cùng tên của thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thập niên 60 tôi đã có tuyển tập “Phố ca” gồm 12 tình khúc. Trong những sáng tác của tôi có 2 bài cùng một tên là “Tình ca mùa xuân”. Bài thứ nhất tôi viết năm 1962, do Thái Thanh hát, sau này Ánh Tuyết có chọn hát. Và bài thứ hai viết năm 1980 mà ngày nay nhiều người biết. Trong tôi, tình ca và tranh đấu ca vẫn luôn song hành. Chính những rung động trong tình ca mới làm giàu thêm ngôn ngữ và hơi thở đấu tranh. Hai dòng nhạc ấy trong tôi là một, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà xuất hiện.
- Từ tuyển tập ca khúc như “Phố ca”, “Hát cho dân tôi nghe”, đến “Hát lời chiêm bao”, “Tình ca mùa xuân”, “Tuyển tập Tôn Thất Lập” và các album “Nụ hôn”, “Tình ca mùa xuân”... Quả là “một gia tài” không nhỏ. Chuyện sáng tác của nhạc sĩ trong giai đọan hiện tại thế nào?
- Tôi luôn giữ lòng trung thành với dòng nhạc trữ tình về đề tài tình yêu, trên cơ sở ngũ cung mang âm hưởng Việt Nam. Nhưng hiện tại tôi cũng luôn tìm tòi, nghiên cứu, mở rộng đề tài và thủ pháp sáng tác, để có những chất liệu mới mang hơi thở đương đại. Ví dụ như bài: Mưa rơi, Cô bé dễ thương…
- Nhạc sĩ nghĩ thế nào về nhạc trẻ, nhạc thời trang hiện nay?
- Nhiều người chống lại hoặc là phê phán nhạc trẻ theo phong cách mới. Còn tôi thì không. Tôi chỉ mong muốn các nhạc sĩ trẻ bên cạnh việc nâng cao kỹ thuật, còn phải biết nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học thuật, tạo nên chiều sâu của tác phẩm, tạo được chỗ đứng lâu bền trong lòng người nghe.
- Hiện nay có rất nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại trở về Việt Nam và tham gia họat động trong lĩnh vực âm nhạc. Ý kiến của nhạc sĩ về vấn đề này thế nào?
- Tôi rất vui và hoan nghinh các nhạc sĩ, ca sĩ hải ngọai trở về Việt Nam và tham gia vào các họat động văn nghệ ở quê nhà.
- Xin cảm ơn nhạc sĩ
Quỳnh Lệ