Mỗi lần nghe lại khám phá ra những ý nghĩa ẩn sâu trong tác phẩm cũng như sau này được nghe tác giả thổ lộ: “Tôi nghĩ rằng để viết về non nước Việt Nam một cách đầy đủ, phải dùng thể loại trường ca, ngoài khối lượng lớn dữ liệu cần chuyển tải, ngoài ngôn ngữ âm nhạc dân tộc được vận dụng khéo léo, thì quan trọng nhất tác phẩm phải chứa đựng được những ý nghĩa tiềm ẩn, để theo thời gian những điều ý vị ấy được phát lộ dần nơi người nghe, và đấy chính là tuổi thọ của tác phẩm theo năm tháng…”
Qua ba phần đầu: 1-Lời ru đất Bắc, 2-Tiếng vọng miền Trung, 3-Giọng hò phương Nam; ta thấy âm nhạc hiện ra ngay từ trong tựa đề (lời,tiếng,giọng); sau đó những đặc trưng được bố cục theo trục địa lý (Bắc,Trung,Nam), theo quá trình (quá khứ, hiện tại, tương lai), theo ý nghĩa Tam Tài (thiên, địa, nhân-trời, đất, người), theo phẩm chất người Việt (nhân, trí dũng), theo chu kỳ một ngày (sáng, chiều, tối), theo giềng mối gia đình (miền Bắc quê Cha đất tổ, miền Trung đất Mẹ nhọc nhằn, miền Nam đàn con gái trai )… Đây chính là hệ thống trục dọc-hoà quyện không gian (vũ trụ quan)-thời gian- với quê hương ba miền, với cấu trúc gia đình tạo nên một thực thể gắn bó chặt chẽ nhưng phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, những lớp trầm tích ấy được thể hiện bằng những ngôn từ thật cô đọng mà người nghe phải tinh tế mới nhận ra, ví dụ như ca từ của 3 phần Bắc,Trung, Nam thể hiện trục dọc trên:
-Theo nghĩa Tam Tài: - Bắc: “đường mây, bước thăng THIÊN những bàn chân”
- Trung: “ĐỊA linh hữu sinh danh nhân tài trí bao người”
- Nam: “NGƯỜI về đây sáng trưa giang hà”
-Theo phẩm chất: - Bắc: “thẳm sâu hồn tiền nhân nuôi cội nguồn, dưỡng lòng NHÂN”
- Trung: “địa linh hữu sinh danh nhân tài TRÍ bao người”
- Nam: “người về đây sáng trưa giang hà, đàn con trung DŨNG chân đất đứng giữa trời”
(ta thấy những phẩm chất này đều gắn liền với người, nhân).
-Theo chu kỳ một ngày: - Bắc: “bóng CHIỀU rơi, khói vương mái nhà buông lơi”
- Trung: “trời ĐÊM, ngầm ôm ấp bao mầm đời”
- Nam: “người về đây, SÁNG TRƯA giang hà”
(ta thấy chiều, đêm, sáng trưa được đưa vào như những đặc thù của đời sống từng miền).
-Theo giềng mối gia đình: - Bắc: “Bóng chiều rơi, khói vương mái nhà buông lơi, lửng lơ giữa trời ngàn khơi, thương đất quê CHA lời ru hời, thẳm sâu hồn tiền nhân nuôi cội nguồn, dưỡng lòng nhân; đường mây bước thăng thiên những bàn chân”.
- Trung: “Trời đêm, ngầm ôm ấp bao mầm đời, địa linh hữu sinh danh nhân tài trí bao người; Ôi đất thiêng, MẸ hiền như suối xuôi nguồn thần tiên, Mẹ ban hơi ấm sữa thơm nuôi đàn con hiền”.
- Nam: “Nước dòng Cửu Long thơm ngát vui ngày Thái Bình,sữa mẹ phù sa nuôi đất nuôi đời ái tình;Người về đây sáng trưa giang hà, ĐÀN CON trung dũng chân đất đứng giữa trời, hò xự xang xê cống –câu hát vọng cổ đưa;Tới đây cùng dọc ngang với bao người, cho thoả lòng tung chí gái trai một đời”.
Ba đoạn trên là ba đoạn cuối của mỗi miền, ta có thể thấy đây là đoạn toát lên phần hồn của mỗi miền, ở đó con người, trời, đất - thiên, địa, nhân-luôn gắn bó tương hợp;Và đặc biệt, trong mỗi đoạn lời ngắn gọn đã hàm chứa được rất nhiều đặc trưng (không gian, thời gian, con người..) cùng đan xen, hoà quyện chặt chẽ với nhau, tạo nên phần nền tảng vững chãi mà thâm sâu về hồn cốt.
Từ trục dọc trên, những trục ngang được xây dựng nhằm chuyển tải những đặc trưng về địa lý, lịch sử, văn hoá của 3 miền; Có thể nói, để chọn lọc được những địa danh, tên người, dấu ấn lịch sử, đặc thù văn hoá…ấn tượng và đặc trưng nhất của mỗi miền trong kho dữ liệu mênh mông là một việc làm đòi hỏi tác giả tốn nhiều suy nghĩ và cân nhắc; sau đó, tìm cách phân bố cho đồng bộ những dữ liệu ở cả ba miền là một điều không dễ; nhưng tác giả Minh Châu đã làm được điều đó một cách rất hài hoà; ví dụ ta có thể thấy Anh đã bố trí những dữ liệu địa lý trải đều ba miền -Bắc,Trung, Nam-như:
*Núi:-mây bay đến Hoàng Liên Sơn, núi non kéo về Tam Đảo, những ngón tay xoè như rẽ quạt (ta biết Tam Đảo là tâm của 5 dãy núi chính của miền Bắc).
-Trường Sơn còn trùng vây
-Thất Sơn cùng Ba Thê đứng giữa trời.
*Sông:- Đà Giang, sông Đuống, sông Lô…-ngàn năm đỏ phù sa, sông Hồng như máu trổ hoa.
-sông Gianh ngày ấy tương tàn…-soi bóng Hương giang lòng ngẩn ngơ.
-gió về Tiền Giang…,sóng cồn Hậu Giang…-nước dòng Cửu Long thơm ngát vui ngày thái bình.
*Biển đảo:-Hạ Long nhấp nhô thân rồng, biển trời một cõi mênh mông.
-Hoàng Sa đứng bên Trường Sa, mênh mông biển trời hoa gấm, sông núi thiêng liêng này của ta.
-Vũng Tàu, Hà Tiên biển xanh mời chân lữ hành…-vượt trùng dương ghé qua Côn Đảo…
*Rừng:-Cúc Phương, Sapa đất nuôi xanh rừng.
-Đây đất rừng Tây Nguyên núi non chập chùng..
-Cát Tiên rừng xanh như chốn tiên bồng..
*Cầu:-cầu Long Biên đón chân ta đứng trên sông Hồng.
-Trường Tiền lặng nghe khoan thai tiếng chuông Thiên Mụ.
-Mỹ Thuận cầu giăng cáp nghiêng mình trên đất lành.
…..hay như những đặc thù văn hoá, âm nhạc:
-tiếng mẹ ru chứa chan thắm tình nước non…-Bắc Ninh ươm duyên thắm câu quan họ..-xanh thẫm núi rừng vẳng nghe véo von khèn ai..
-đêm sông đò đưa ca Huế…- núi non chập chùng âm vang cồng chiêng…-say tiếng đàn T'rưng
-thương quá câu hò…-lời thơ Lục Vân Tiên nhớ Đồ Chiểu xưa…-hò xự xang xê cống câu hát vọng cổ đưa..
…..và rất nhiều những dữ liệu của cả ba miền được chuyển tải theo trục dọc và trục ngang đã đem đến những màu sắc, đường nét phong phú và riêng biệt của ba miền, để rồi cùng tụ hội về phần 4-Việt Nam Gấm Hoa,vẽ nên một bức tranh non nước đậm đà và ý vị: “Ta hát trên đất Mẹ, hùng thiêng sông núi dạt dào. Đây nòi giống Tiên Long, giống Lạc Hồng; Đây non nước uốn thân rồng”; với tâm niệm dân tộc “người Việt yêu nghĩa nhân, nuôi hoà bình, nuôi sức dân, lướt qua tháng năm đau thương phù vân”; với tình mẫu tử bao la của Mẹ quê hương dành cho đàn con ở mọi miền, muôn hướng: “yêu thương đón đàn con, miền xa ngóng trông hoài hương, Mẹ giang cánh tay ân tình mong người về đây chung mái gia đình; Bao dung Mẹ Việt Nam ngàn năm dưỡng nuôi đàn con, dù cho nắng mưa mỏi mòn nhưng lòng Mẹ như trời cao mãi còn”; và Việt Nam Gấm Hoa càng nồng nàn tình dân tộc với “tình yêu chảy trong máu tim ta….-triệu muôn trái tim cùng hát vang bài tình ca” là nét vẽ hoàn tất một Bức Tranh Non Nước của người Việt Nam.
Về mặt hình thức âm nhạc, Minh Châu đã sử dụng rất chọn lọc và chuẩn xác những điệu thức dân tộc của từng miền; Ngoài ra, đoạn nhạc chuyển điệu thức Tây Bắc và Tây Nguyên trong phần miền Bắc và miền Trung rất hài hoà và liền mạch, uyển chuyển; Tác giả cũng cho biết: “cả ba miền Bắc,Trung,Nam tôi đều viết cùng một ton Do trưởng là nhằm thể hiện sự thống nhất và liền lạc của 3 miền Bắc,Trung, Nam; chỉ đến bài Việt Nam Gấm Hoa thì viết trên khoá biểu 3 dấu thăng-ton La trưởng-là để nói lên ý tưởng cả 3 miền cùng góp chung lời hát cất lên cao tiếng ca xưng tụng quê hương,và các bè được dàn dựng mang ý tưởng sự hoà ca của 3 miền, hoà quyện và gắn bó với nhau nhằm tạo nên một Việt Nam rạng rỡ, đầy sinh lực đang vặn mình bước vào ngày mai”.
Một điều ẩn chứa rất thú vị khi được tác giả-là người từ lâu đam mê nghiên cứu học thuyết âm dương- cho biết: “Ngoài những vận dụng biến đổi trong ngôn ngữ âm nhạc dân tộc để biểu đạt sắc thái âm dương chứa đựng trong các vùng địa lý khác nhau của 3 miền-mà tôi đã đề cập trong bài viết “Những cảm xúc…” ; khi thực hiện CD Trường ca Bức Tranh Non Nước tôi đã suy nghĩ rất nhiều để Trường ca này mang kết cấu với đầy đủ những sắc thái âm dương tiến hoá theo vận mệnh Việt Nam :
-Lưỡng nghi-âm dương :giọng ca của nam và nữ kết hợp.
-Tam Tài : 3 miền Bắc Trung Nam với những yếu tố hài hoà- trời, đất, con người-và những bộ ba đặc trưng…hàm chứa trong mỗi phần.
-Tứ Tượng : Trường ca gồm 4 phần.
-Ngũ Hành : Năm giọng ca thu âm, gồm 3 nam (lẻ)-Minh Châu, Quang Linh, Quốc Đại, 2 nữ (chẵn): Thanh Thuý,Trang Nhung.
-Bát Quái : “bốn phần đều có đoạn sau lặp lại”.
Tuy khá trừu tượng và khó hình dung,nhưng những thủ pháp được vận dụng trong Trường ca Bức Tranh Non Nước đã tạo nên những lớp trầm tích để tác phẩm như một bức tranh phong phú và tinh tế theo luật cận-viễn-chiếu; và theo thời gian, càng nghe nhiều lần người ta càng khám phá thêm những tầng vỉa mới ẩn chứa trong lòng tác phẩm.
NGỌC ĐIỆP