Nhận thấy đằng sau vấn đề này vừa liên quan đến chuyện "bản sắc trong bối cảnh hội nhập" vừa liên quan đến mối quan hệ giữa ca từ và ngôn ngữ âm nhạc trong ca khúc. Và, cũng để rộng đường dư luận, Giai Điệu Xanh đăng lại một bài viết của NS Quốc Bảo có liên quan đến vấn đề này. Rất mong nhận được nhiều ý kiến tham gia thảo luận.
***
Những lời than thở đại loại như, “Giá mà tiếng Việt không dấu như tiếng Anh thì sướng biết mấy”, “Trời ơi sao người ta muốn viết gì nghe cũng lọt tai, tiếng mình khổ quá”, bao giờ cũng dấy lên trong tôi một sự cảm thông vô bờ bến, và trong một số dịp, còn khiến tôi chao đảo đến mức có cảm giác đến mức có cảm giác mình là con cá xấu số bị mắc lưới tiếng mẹ đẻ.
Song, may thay, khi đối diện với chính tiếng mẹ đẻ đã “lưới” mình, trước vẻ trong sáng và những khả thể hấp dẫn của nó, hạnh phúc tràn ngập làm cho tôi quên đi mọi ý định phản bội, để đến nay, có thể tôi đã yên tâm hơn với mớ chăn êm nệm ấm mà tiếng Việt đầy tình mẫu tử khoan hòa đã chiều chuộng dọn cho tôi.
Thế nào tôi cũng bị trách cứ là quá phóng đại khả năng/tiềm năng của tiếng Việt cũng như quá chủ quan mẹ hát con khen hay khi nhận định rằng tiếng mẹ đẻ đã quá đủ, thậm chí thừa, cho mọi thể nghiệm của các nhạc sĩ Việt trong ca khúc. Nhưng thà chịu trách cứ còn hơn nói khác đi, còn hơn phản bội; và nếu để có thêm những “tình tiết giảm nhẹ” trước trách cứ thế nào cũng đến từ các đồng nghiệp của mình, tôi xin cố phân tích dưới đây cái gọi là “tiếng Việt vừa miệng người Việt” cho có đầu có đuôi một chút.
Khi cho rằng hệ thống dấu thanh hạn chế khả năng biến hóa của giai điệu, vô hình trung chúng ta đang làm cái việc nắm tóc lôi xềnh xệch mình lên, cố viết những giai điệu không hợp tai nghe và cái “tạng” người Việt. Hay nói giản dị hơn, chúng ta đang ép mình viết những giai điệu quá Tây. Khái niệm Tây/ta ở đây chỉ có ý nghĩa tương đối, ước lệ; điều quan trọng tôi muốn trình bày nằm ở chỗ khác: chính cái sự hạn chế của dấu thanh đã giúp ta tạo ra những giai điệu “có gốc” hơn, đẫm chất Việt hơn. Nói đến giai điệu thì phải liên tưởng ngay đến tiết tấu; sở dĩ nhiều lần tôi tỏ ra dị ứng với loại tiết tấu hàng hàng lớp lớp móc kép nối đuôi nhau ở tempo chậm mà nhạc pop Hồng Kông hay sử dụng và ta hay... mượn lại, chính là vì nó không thích hợp chút nào với nhịp hành ngôn của tiếng Việt. Hệt như khi cố ép một câu Anh ngữ nào đó vào làn điệu vọng cổ vậy.
Còn lời than “Tây viết gì nghe cũng lọt tai” ngẫm lại thấy như một mặc cảm tự tạo. Chúng ta có dám chắc cái gọi là lọt tai ấy khi dịch ra tiếng Việt không làm chướng tai mình không, và một người Việt giỏi tiếng Tây có hoàn toàn đồng cảm với cách diễn đạt lắm khi trần trụi, trực tiếp của ngoại ngữ ấy? Hơn nữa, bản thân những điều “lọt tai” người ngoại quốc ấy có quá nhiều khả năng là những sáo ngữ, cách nói thuận miệng, và như thế, không hề đem lại một đổi mới nào. Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa có những “ước lệ” riêng của mình, nên thậm chí tôi nhất mực tin rằng hệ thống taboos mà tiếng Việt, người Việt dựng nên, quy định ngầm chẳng hạn thế nào là thô tục, làm sao gọi là sáo, cũng là những rào chắn chấp nhận được đối với người sáng tạo. Và phải nhớ thêm rào chắn ấy không hề chôn chặt một chỗ, nó dịch chuyển theo đà phát triển của ngôn ngữ, nới rộng dần “sân chơi” cho kẻ dùng nó.
Mỗi dân tộc, lại cũng do những quy định về văn hóa và đặc điểm tâm lý cộng đồng riêng, sẽ liên tưởng được những sự việc, những hình ảnh hết sức khác nhau khi nghe cùng một bài hát. Chưa hẳn một giọng có âm hưởng u ám như Rita Coolidge hay James Taylor sẽ mang về cho cô ta hoặc anh ta nhãn hiệu “nữ hoàng/ông hoàng nhạc sầu” ở quê hương họ, cũng như chắc gì người nghe ngoại quốc cảm thấy “sexy” khi nghe Trần Thu Hà hát Nhật Thực? Vậy cho nên, ta không thể áp đặt cảm giác một cách hoàn hảo, tối ưu cho tất cả những thính giả của mình; và những gì định nói của ta cũng chỉ có hiệu lực tương đối mà thôi.
Ai cũng có một kho tiếng Việt đủ dùng cho chính mình, cho những điều mình định nói, định diễn đạt. Gạt sang một bên nguy cơ bị hiểu lầm lúc nào cũng rình rập chẳng riêng trong việc thể hiện trong bài hát, mà ngay ở đối thoại đời thường, chúng ta hoàn toàn có thể yên tâm mình đã được trang bị một hành trang Việt ngữ “chắc ăn” cho đời mình. Chuyện bằng trắc, dấu thanh cũng không là vấn đề nan giải. Tôi cho rằng chỉ những ai không rành tiếng Việt mới mắc lỗi dấu thanh khi đặt lời, song ngay cả ở trường hợp đó, lỗi lại mang những nét “dễ thương” nếu ý tứ muốn chuyển tải thực sự có nghĩa. Cái được biểu đạt quan trọng hơn nhiều so với cách biểu đạt. Điều tôi vừa nói hoàn toàn không mâu thuẫn với nỗ lực trau giồi ngôn ngữ và khổ luyện để tự làm giàu khả năng biểu đạt tiếng mẹ đẻ của những ai đang cầm bút.
Giờ ta bàn một chút về âm hình, và khả năng gợi cảm của nó đối với những đối tượng nghe khác nhau. Một số nghiên cứu ngôn ngữ học đã tạm kết luận rằng, âm hình có khả năng biểu đạt vượt ra ngoài ngữ nghĩa – tỷ dụ như một người không hiểu tiếng Việt cũng có thể cảm được sự mờ tối của từ “trầm”, sự vang dội bao la và buồn của từ “mang mang”… Tôi chưa tìm thấy những luận cứ thực sự xác đáng về điều rất lý thú ấy, nhưng gợi ý của nó cũng giúp ích chúng ta được nhiều trong việc tìm kiếm những phương cách biểu đạt tượng thanh phong phú của ngôn ngữ.
Thế thì, nếu tiếng Việt đã quá đủ như vậy, có cần thiết cho một công cuộc trau giồi ngoại ngữ dành riêng cho giới sáng tác ca khúc hay không, như khuyến khích của những người lo lắng cho sự chậm trễ hòa nhập quốc tế của nhạc Việt?
Tôi cho rằng, vẫn nên có. Ít nhất ta được hai cái lợi. Một là, bằng việc thông thạo một ngoại ngữ nào đó, chúng ta dễ dàng hơn trong việc khai thác sở trường của tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn chọn vần, chọn âm ngân, âm tắc/xát, ngắt câu ngắt nhịp thế nào cho dễ hát nhất. Chúng ta cũng tìm cách giải quyết được vấn đề số lượng từ phải có trong một quãng thời gian cố định - một ô nhịp chẳng hạn, - khi ngôn ngữ đa âm chỉ cần một từ nhiều âm tiết thì tiếng đơn lập phải mất nhiều từ mới lấp đủ quãng thời gian đó. Kinh nghiệm này có lẽ có nhiều ở những người từng đặt lời Việt cho ca khúc ngoại quốc.
Cái lợi tiếp sau, là có thể chúng ta sẽ tìm ra “lối thoát” trong việc Việt hóa những phong cách âm nhạc ngoại lai. Rap chẳng hạn, không ít nhạc sĩ trong chúng ta đã thể nghiệm các cách nói rap tiếng Việt nhưng chưa thể đem lại một kết quả nào khả dĩ. Trong nhiều trường hợp, chính người đi tìm bị vướng bẫy do mình giăng, làm cho tiếng Việt méo mó hẳn đi, và ở trường hợp ít trầm trọng hơn cả thì cũng lạc giữa một ngã bảy quá nhiều lối rẽ.
Không kể đến lối nói rap kiểu bài chòi, lô tô mà nhiều nhà nhạc học lý thuyết đề nghị và cuối cùng cũng lộ rõ nhược điểm là không thể ăn nhập nổi vào tiết tấu hip-hop, nhiều người đang băn khoăn không biết nên phát âm theo kiểu người vùng cao nói tiếng Kinh, hay nên cố tìm những từ có thanh ngang cho “Tây” một chút. Chẳng hạn, nên “Chăng hê yêu chăng hê nhơ chăng hê xao đông ma bông dưng / Thây chiêu vut mau thây ngươi buôn đau thây em xa lâu / Thây quan không đen thây ngươi không hôn thây” hay nên “Em như trăng cao em như mây cao anh yêu em như mơ / Em nào hay bao giờ anh yêu em như thơ”?
Thế còn chuyện viết lời Anh ngữ trực tiếp cho bài hát? Tôi xác quyết rằng khả năng gây nên những ấn tượng exotic đối với người nghe ngoại quốc của các sáng tác Việt lời Anh là rất lớn, song tiềm năng này nên được khai thác bằng cách viết trước lời tiếng Việt hoàn chỉnh rồi dịch lại. Đó là cách làm khá phổ thông ở cộng đồng các nước không nói tiếng Anh, như ABBA hoặc Anggun đã làm: ABBA thoạt tiên hát bằng tiếng Thụy Điển, sau đó mới dịch ra Anh ngữ; Anggun hát tiếng Pháp rồi làm phiên bản tiếng Anh sau. Bằng cách đó, chúng ta vừa có thể “lạ hóa” chính tiếng Anh bằng những ý tưởng đặc thù của mình, vừa cân nhắc được mình nên đầu tư dịch những dạng ca khúc có giai điệu và tiết tấu như thế nào để đừng bị “sượng”.
Bất luận thiên hướng phát triển sự nghiệp của các nhạc sĩ có dị biệt, tách nhánh đến đâu, thái độ tin tưởng vào tiếng mẹ đẻ vẫn luôn cần thiết. Nó cần, nhất là, cho tinh thần trau giồi tiếng Việt một cách liên tục, không mệt mỏi.
Quốc Bảo