- Nhạc cổ điển
- Nhạc trẻ
- Âm nhạc dân gian
- Bàn tròn âm nhạc
- Lý luận - Phê bình
- Tác giả - Tác phẩm
- Gương mặt ca sĩ QT
- Nhóm nhạc
- Thường thức âm nhạc
- Nói chuyện sáng tác
- Thời trang và nghệ sĩ
- 1001 sự cố
- Chuyện giờ mới kể
- Đời thường nghệ sĩ
- Góc xấu của "Sao"
- Hậu trường ca nhạc
|
Đàn đoản (sun lute)
[31/07/2007 14:25:23]
Giới thiệu sơ lược: Đàn Ðoản là nhạc khí truyền thống của Dân tộc Việt và một số dân tộc ít người ở miền Bắc Việt Nam. Tương tự với Ðàn Ðoản, người H’ Mông có Thà Chìn, người Lô Lô có Gièn Xìn, hộp đàn mỏng hơn, có vẽ hoa và khoét lỗ thoát âm. Xếp loại
Đàn Ðoản là nhạc khí dây gảy (cần ngắn) có bốn dây:
Thùng đàn: hình tròn dẹt, đường kính 35cm, thành đàn dầy 7cm, bằng gỗ cứng, đáy đàn bịt gỗ, không khoét lỗ thoát âm. Mặt đàn: mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc trên mặt đàn có ngựa đàn. Dọc đàn (cần đàn): rất ngắn khoảng 20cm, làm bằng gỗ cứng, chỉ gắn được 2 phím, còn 8 phím gắn ở mặt đàn, chiếm giữa hình tròn của mặt đàn. Các phím đều cao, được gắn dựa theo thang âm bảy cung chia đều. Dây đàn: bằng tơ se, nay thay bằng nylông, hai dây to cùng một âm, 2 dây nhỏ cùng một âm, được lên cách nhau một quãng 5 đúng: Sol1 - Rê2 . Bộ phận lên dây: có 4 trục gỗ để lên dây, một trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn (ở phía cuối thân đàn) để mắc dây và lên dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống. Phím gảy đàn: nhạc công gảy đàn bằng miếng nhựa với những ngón gảy, hất, vê... Vị trí nốt trên dọc (cần đàn):
Màu âm, Tầm âm
Kỹ thuật diễn tấu
Ngón vê: dùng miếng gảy đánh xuống và hất lên liên tục, nhanh và đều, ký hiệu gạch 3 chéo ở đuôi nốt. Vê làm cho tiếng đàn vang đều từ đầu đến hết độ ngân của nốt nhạc, làm cho nốt nhạc thêm sinh động, giàu sức biểu hiện, được sử dụng rất nhiều.
Ngón nhấn: tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới.
Ngón láy: còn gọi là ngón vỗ, thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới nầy sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nấc, diễn tả tình cảm xao xuyến. Ngón láy rền: là tăng cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải, sử dụng chữ tắt của Trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.
Ngón vuốt: là cách vuốt dây của tay trái trong khi tay phải không gảy, không vê, không phi, âm thanh các ngón vuốt xuống phát ra nhỏ, yếu nhưng không thể dùng trong hòa tấu. Do vậy các âm vuốt thường xen kẽ với các âm gảy, vê hay phi để có thể thừa hưởng dư âm của các âm ấy. Ký hiệu ngón vuốt là dùng gạch nối giữa hai nốt.
Vuốt có vê: dùng gạch nối giữa hai nốt đồng thời gạch hai gạch chéo ở nốt nhạc có đuôi, nếu nốt nhạc không có đuôi thì gạch hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt.
Chồng âm - Hợp âm: của Ðàn Ðoản rất thuận lợi, đặc biệt những thế bấm phía dưới cần đàn. Ðàn đảm nhiệm việc đánh các chồng âm, hợp âm chính. Ðàn có phím nên có thể đánh được nhiều kiểu chồng âm, hợp âm, nếu đàn bằng miếng gảy đánh được cùng một lúc trên các dây cách nhau. Khi viết chồng âm, hợp âm cho Ðàn Ðoản nên tận dụng.
Chồng âm có vê:
Vị trí Ðàn Ðoản trong các Dàn nhạc Thạc sĩ Võ Thanh Tùng |

Cầu nối trái tim