Tiếc, vì tôi không được nghe âm nhạc của ông sớm hơn, ít ra là trước khi tôi phải “gánh” trách nhiệm viết lời giới thiệu thành tựu của nền giao hưởng Việt Nam cho bộ sách tổng phổ Những tác phẩm giao hưởng Việt Nam đã ra những tập đầu tiên tại Viện Âm nhạc. Tiếc, vì cho đến nay những cuốn sách về lịch sử khí nhạc Việt Nam vẫn chưa “đụng” đến những sáng tác của các nhà soạn nhạc sống ở nước ngoài như Nguyễn Thiên Đạo, Nguyễn Lân Tuất... Tiếc cho giới yêu nhạc giao hưởng trong nước không có dịp thưởng thức những tác phẩm giao hưởng được nước ngoài đành giá cao của một người Việt được phong danh hiệu Nghệ sĩ công huân Liên bang Nga.
Thêm một điều nữa để tiếc, lẽ ra lần này trở về Hà Nội nhân dịp được báo điện tử Vietnamnet trao tặng danh hiệu “Vinh danh nước Việt 2005”, nhà soạn nhạc Lân Tuất với đồng lương giáo sư nghèo của nước Nga vẫn không kịp lo đủ tài trợ để cùng Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam “trình làng” giao hưởng Tổ quốc tôi như kế hoạch đã định. Tiếc cho riêng tôi khi viết những dòng này vẫn chỉ được nghe các tác phẩm giao hưởng thính phòng của ông qua CD và trong tay chỉ có duy nhất tổng phổ Tổ quốc tôi.
Tổ quốc tôi là giao hưởng số 2 (1983) trong số bốn giao hưởng của nhạc sĩ Lân Tuất đều đã dàn dựng tại Nga - số 1 Dự cảm nội chiến (1981), số 3 Giấc mơ trong tù (1989), số 4 Gửi người yêu nơi xa (1995). Giao hưởng số 5 chưa viết chương cuối, nhưng chương đầu cũng đã công diễn vào năm 2003.
Với Lân Tuất, giao hưởng là sự chắt lọc trong sáng tạo và ông không muốn lặp lại chính mình, vì vậy ông nghiền ngẫm các giao hưởng của mình khá lâu, có khi viết một hai chưng rồi lại “ngâm” đó đến lúc nào chưa biết như giao hưởng số 5. Ông vẫn tự xưng là “Người lười” vì chỉ viết nhanh khi bị thúc ép. Có tác phẩm được đặt tên trước và đã ấn định ngày công diễn rồi chẳng trốn đi đâu được nữa, nhà soạn nhạc “lười biếng” mới khởi động và mở hết tốc lực cho qui trình sáng tạo của mình. Riêng Tổ quốc tôi là một ngoại lệ, không một sự hối thúc nào từ bên ngoài, mà bị thiêu đốt từ bên trong bởi nỗi đau tột cùng đã khiến chàng lười Lân Tuất “cháy” liền một mạch trong hai - ba tháng xong bốn chương nhạc. Ma lực nào thôi thúc đến vậy? ấy là nỗi đau đớn của một người con rất yêu cha mẹ, yêu Tổ quốc bỗng chốc rơi vào tình cnh tuyệt vọng không Tổ quốc, không đường về, không còn cơ hội gặp lại thân sinh. Và tác giả đã ghi trên trang đầu tổng phổ giao hưởng Tổ quốc tôi dòng chữ: Gửi tặng cha mẹ tôi.

Cha mẹ và thời thơ ấu vàng son trong gia đình là một điểm sáng trong cuộc đời nhạc sĩ Lân Tuất. Giáo sư Lân Tuất cho rằng sự thành đạt trong sự nghiệp dạy học của mình trước tiên là nhờ thừa hưởng “gien” sư phạm di truyền của cha, một danh nhân văn hóa - nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục học Nguyễn Lân. Không chỉ riêng Lân Tuất - người con trưởng, mà tất cả tám người con (bảy trai, một gái) của Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân đều là giáo sư, tiến sĩ trong các ngành nghề khác nhau. Người cha mẫu mực uyên bác và đặc biệt người mẹ tài hoa (nhất là tài vẽ tranh lụa) lại rất mực nhân hậu dịu hiền đã ảnh hưởng lớn đến sự định hình nhân cách và thiên hướng nghệ thuật của nhạc sĩ. Ông trân trọng tình nhân ái và luôn lấy tính thiện tâm làm điểm tựa cho lẽ sống của mình. Xa người thân, xa Tổ quốc, tình yêu con người nhân lên thành tình yêu dân tộc, tình yêu gia đình hòa quyện vào tình yêu đất nước. Đâu phi ngẫu nhiên khi về nước lần đầu tiên sau hàng chục năm không tiếp xúc với người Việt, không có cơ hội “xài” tiếng Việt, Lân Tuất vẫn nói tiếng Việt “như gió”. Và tác giả của cả chục cuốn từ điển tiếng Việt, Nguyễn Lân đã thực sự tin đứa con không quên tiếng mẹ đẻ của mình đúng là người yêu nước.
“Người yêu nước” đó đã nói gì với Tổ quốc tôi?
Tổ quốc là hình tượng thống nhất toàn bộ tác phẩm. Các chương nhạc gắn kết với nhau bằng hình tượng nghệ thuật và tuyến giai điệu chủ đạo, nhưng vẫn độc lập về nội dung. Hình ảnh đất nước phong phú dần qua từng chương, mỗi chương mở ra một góc nhìn mới chứa đựng những yếu tố tưng phản với chương trước: nếu chương I ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên hữu tình thì chương II rộn rã cảnh hội hè dân gian, nếu chương II phản chiếu một góc đời sống sinh hoạt phong tục thì chương III liên quan đến đời sống tâm linh tinh thần, và nếu ba chương đầu là những bức tranh tả thực đất nước con người Việt Nam thì chương cuối cho thấy hình ảnh Tổ quốc trong suy tư, trong tình cảm nội tâm người xa xứ. Tổ quốc đã đi từ con mắt chiêm ngưỡng khách quan vào thế giới chủ quan. Tâm tư và suy ngẫm của người nghệ sĩ về số phận - số phận dân tộc, số phận cá nhân phải tự khẳng định mình khi bị tách ra khỏi cộng đồng - là cả một nỗi niềm sâu nặng được gửi vào chương kết, vì vậy chương IV đương nhiên chiếm một thời lượng lớn hơn các chương trước: hơn một nửa trong tổng số hai mươi phút toàn tác phẩm.
Hình tượng Tổ quốc bắt đầu từ tiếng chuông. Lúc căng thẳng lúc tôn nghiêm, khi văng vẳng từ xa khi gióng giã choáng ngợp, lúc trong vắt thanh minh lúc đục trầm thẳm sâu…, hình như tiếng chuông chứa đựng cả không gian lẫn thời gian, cả bề rộng ngoại cảnh cũng như chiều sâu của quá khứ và tâm thức. Âm thanh chuông trong những chương đầu gợi mở không gian thực, nhưng đến chương cuối đã biến thành những chấn động của cơn bão lòng, và khi đó Lân Tuất không còn giống như một họa sĩ vẽ tranh phong cảnh nữa, ông triết lí sự đời bằng tiếng chuông. Có thể nói Lân Tuất rất “nghiện” âm thanh chuông, sau này ông còn để tiếng chuông tiếp tục vang lên trong những sáng tác khác như giao hưởng số 3, ngũ tấu Tiếng chuông nhà thờ.
Khởi nguồn từ motif tiếng chuông là chủ đề Đất Mẹ. Dịu dàng, ấm áp, bao dung, đầy nữ tính, rõ ràng ở đây không âm sắc nhạc cụ nào đem lại hiệu quả thích hợp bằng giọng nữ trầm (contralto) không lời ca (vocalise). Cũng như tiếng chuông, chủ đề Đất Mẹ ở chương đầu là bức tranh phong cảnh lộng lẫy nên thơ, ở chương kết là hình ảnh Tổ quốc phản chiếu qua tâm tưởng người xa xứ. Trong những nhịp cuối tác phẩm, tiếng hát của Mẹ vang lên từ phía sau sân khấu như vọng lại từ xa xăm. Hình như Mẹ bất diệt và dù cách trở muôn trùng thì Người Mẹ Tổ quốc vẫn mãi là cội nguồn để thương để nhớ.
Tình yêu với nghĩa rộng là chỗ dựa tinh thần, là sự cứu rỗi cho linh hồn cô đơn. Nhờ có tình yêu ấy mà con người luôn hướng thiện trong Lân Tuất đã không hận đời, không bi quan trong khúc quanh phũ phàng của số phận. Trong bế tắc tột cùng ai đó có thể chọn gỉai pháp tuyệt vọng như súng lục hay trốn chạy vào rượu bia, riêng Lân Tuất đã chọn âm nhạc. Tổ quốc tôi là một “phản ứng nghệ thuật” của một tâm hồn nghệ sĩ, một bản tính lạc quan, một quan điểm sống đầy chất nhân văn.
Khác với giao hưởng số 1 viết theo phong cách hiện đại dodécaphone, giao hưởng số 2 tuy không ngừng hướng tới ngôn ngữ âm nhạc thế kỉ XX, nhưng nổi bật trong đó vẫn là tính giai điệu. Tính trữ tình ca xướng sau này còn đậm nét hơn trong giao hưởng số 4. Hình như càng nhiều tuổi càng chín con người ta càng trở về với chính mình, và nhạc giao hưởng Lân Tuất khởi đầu bằng cuộc hành trình đi tìm cái mới cũng đang trở về với chất trữ tình lãng mạn thấm sâu trong dòng máu Việt?
Nếu như tính giai điệu, chất trữ tình ở Lân Tuất là một biểu hiện kế thừa truyền thống - vừa mang hơi hướng truyền thống Lãng mạn thế kỉ XIX, vừa có cội nguồn từ nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam, thì ảnh hưởng ngôn ngữ âm nhạc Hiện đại thế kỉ XX thấy rõ hơn trong nghệ thuật hòa thanh và phối khí. Hình thành trên nguyên tắc truyền thống của âm nhạc có chủ đề kết hợp với những thủ pháp diễn đạt của âm nhạc đương đại, giao hưởng số 2 mới mẻ về hiệu qủa âm thanh nhưng không quá xa lạ đến ngỡ ngàng với “cái tai” người Việt.
Với một người đã ngót nửa thế kỉ hít thở trong bầu không khí văn hóa âm nhạc của nước Nga thì sự thừa hưởng truyền thống giao hưởng châu Âu trong tác phẩm là lẽ đương nhiên. Chẳng hạn, trong cách xây dựng chủ đề Tổ quốc như một hình tượng cụ thể nổi bật và thống nhất tác phẩm, trong nội dung ngợi ca vẻ đẹp đất nước và hình ảnh bất tử của đất nước thông qua thế giới nội tâm của tác gỉa có cái gì đó rất gần với giao hưởng cũng mang tên Tổ quốc tôi của nhạc sĩ Tiệp thế kỉ XIX Smetana. Lại có cái gì đó gợi nhớ đến trường phái Nga, đến cách tái tạo âm thanh chuông trong sáng tác của Mousorsky, Rachmaninov, đến những giai điệu trữ tình bi thương của Tchaikovsky, lối hòa âm theo “tông” màu gắt và mạnh trong miêu tả thiên nhiên của Stravinsky, không khí căng thẳng kịch tính của Schostakovitch… Song, cũng còn một lẽ đương nhiên khác, giao hưởng số 2 của Lân Tuất đem lại ấn tượng rất Việt Nam bởi lẽ linh hồn của âm nhạc ấy đích thực là tâm hồn Việt, tinh thần, tính cách Việt.
Kết hợp giữa hai nền văn hóa âm nhạc Đông - Tây, giữa truyền thống với đương đại, giữa chuyên nghiệp với dân gian, giữa tính hiện thực với tâm hồn lãng mạn, giữa kĩ thuật đa dạng trong hòa thanh phối khí với tính giai điệu trong sự biến hóa khôn lường…, giao hưởng số 2 là một “dấu son” trong sự nghiệp sáng tạo của nhà soạn nhạc Lân Tuất, và dấu son ấy không chỉ cho riêng Lân Tuất, mà còn thuộc về gia sản chung của nền giao hưởng Việt Nam thế kỉ XX. Vậy mà cho đến quá nửa thập niên đầu thế kỉ XXI, Tổ quốc tôi vẫn chưa một lần được sống bằng âm thanh trên Tổ quốc của nó.
Nhạc sĩ Lân Tuất nói đến giao hưởng số 2 như nhắc về một kỉ niệm xa lắc của một thời đã qua: “Cái này” viết lâu rồi, từ hơn hai mươi năm trước…”. Cách đây hai thập kỉ giao hưởng Việt Nam đã có một tác phẩm như thế, đáng ghi nhận một cách tự hào lắm chứ!
Và quan trọng hơn cả với một tác phẩm nghệ thuật không phải là được viết từ bao lâu trước, mà ở chỗ “nó” sẽ còn tồn tại bao lâu sau.
Thời gian sẽ trả lời, công chúng sẽ trả lời, nhưng trước hết hãy để Tổ quốc tôi cùng các giao hưởng khác và những sáng tác thanh khí nhạc của nhạc sĩ Lân Tuất được vang lên ngay trên đất nước Việt Nam - Tổ quốc của tác gỉa Tổ quốc tôi.
Hà Nội, Tết Bính Tuất 2006.
Nguyễn Thị Minh Châu