1. Nghệ thuật: các kiểu hát, nói, các phong cách hát, nói trong tuồng
Âm nhạc trong tuồng đóng một vị trí vô cùng quan trọng, gồm 2 bộ phận chủ đạo: khí nhạc (dàn nhạc) và thanh nhạc. Số lượng nhạc cụ trong dàn nhạc tuồng không cố định về số lượng. Một dàn nhạc cổ thường gồm có: trống chầu [18], trống chiến - được mệnh danh là vị phó sư [19] của dàn nhạc, kèn, thanh la. Về sau có thêm trống trận, trống cơm, trống bồng, trống lệnh, trống bản, đàn nhị, sáo, chập choã, não bạt… Hiện nay, tùy theo quan điểm thẩm âm của từng vùng, quy mô, số lượng nhạc cụ trong mỗi dàn nhạc cũng có điểm khác nhau. Nhạc tuồng có một sức thu hút kỳ lạ, thôi thúc mọi người đến xem hát.
Cách điệu, ước lệ và trừu tượng là những nguyên tắc chủ đạo trong nghệ thuật diễn xướng tuồng. [20] Người diễn viên tạo ra không gian, thời gian, các chi tiết diễn xuất thích hợp qua cử chỉ, động tác, vẻ mặt, ánh mắt, qua cách vận dụng hơi, giọng để gây hiệu quả đồng cảm đến người thưởng thức.
Thanh nhạc trong tuồng gồm 2 bộ phận: bộ phận có bài bản và không bài bản (làn điệu). [21]
Dạng có bài bản: có 3 loại [22]
- Những bài nhỏ: cho các vai phụ, vai hề gọi chung là “nồi niêu”.
- Bài thường: Những bài bản trong tình huống bi thương, sầu oán.
- Bài chính: gồm những bài dài hơn, phân theo các nhóm tính chất: trữ tình, hoành tráng, những bài dành cho các vai nữ với nét giai điệu mềm mại, những bài có tính chất vui tươi, ngân nga hoặc ngâm vịnh…
Dạng theo làn điệu là những điệu hát cơ bản và khá phổ biến, gồm những điệu chưa có khúc thức hoàn chỉnh. Tính chất co giãn và tương đối tự do của làn điệu là cơ sở cho phong cách ngẫu hứng của diễn viên. Dạng theo làn điệu có hai loại: loại không theo nhịp và loại theo nhịp.
Loại không theo nhịp gồm có:
- Nói lối: Kỹ thuật nói rất đặc thù và phổ biến nhất trong tuồng. Các diễn viên rất chú trọng kỹ thuật này vì làn điệu phong phú, sâu sắc và tính tự do, phóng khoáng của nói lối. Có nhiều kiểu nói lối, lệ thuộc vào những hoàn cảnh, tâm trạng khác nhau của nhân vật.
- Xướng: Kỹ thuật hát nói (declamacion) rất đặc thù trong tuồng, gồm nhiều loại lệ thuộc vào những hoàn cảnh, tâm trạng khác nhau của nhân vật [23]. Trong các kịch bản tuồng cổ, có sự phân biệt rất rõ giữa ca và xướng. Nếu trong ca, giai điệu được dùng để diễn tả tình cảm thì trong xuớng, ngữ khí đóng một vai trò quan trọng. Xướng thường cất cao giọng, dựng hơi lên [24]. Xướng thường dùng thể hiện những cảm xúc hùng tráng.
- Thán: Gồm những làn điệu mang tính thất vọng, oán thán, than thở. [25]
- Bạch: Là những làn điệu chỉ dùng cho các vai nữ tướng, tính chất oai nghi, khí khái.
- Oán: Những làn điệu tiết tấu chậm rãi, oán trách, uất ức.
- Ngâm: Thể hiện những tâm trạng vui, buồn, giai điệu trải dài, mang tính ngâm ngợi.
- Vịnh : Mang tính lãng mạn, phóng khoáng
- Sa mạc : Thường gặp trong các cảnh thể hiện cảm xúc trữ tình.
Loại theo nhịp gồm có:
- Hát Khách, còn gọi là hát Bắc. Có 8 loại hát khách:
1.Hát Khách hành binh (để diễn tả tâm trạng nhân vật trước hoặc đang lúc ra quân).
2.Hát Khách đối thoại (dành cho 2 người).
3.Hát Khách tự sự: nhân vật thể hiện tâm trạng của chính mình.
4.Hát Khách tửu : Nhân vật đang uống rượu.
5.Khách tử: Nhân vật khi sắp chết.
6.Khách tẩu: Đang chạy, hoặc đang lúc khẩn trương ra trận.
7.Khách hồn: nhân vật là hồn ma hiện về.
8.Khách phú: Nhân vật là người quí phái, sang trọng
- Hát Nam. Có các loại:
1.Nam xuân: Tâm trạng vui tươi, sảng khoái.
2.Nam ai: Tâm trạng buồn bi lụY.
3.Nam xuân nữ: Ít thấy sử dụng trong các vở tuồng cổ. Tâm trạng buồn nhưng không không bằng Nam ai.
II. Kỹ thuật: Tình huống, cách xử lý, kỹ thuật hát.
Một diễn viên hát tuồng ngoài chất giọng thiên phú, cần phải học tập, rèn luyện lâu dài. Sân khấu tuồng ngày trước thường hát ngoài trời nên cần có chất giọng vang to, ngân dài và khi tập cần phải sử dụng sức rất nhiều. Trong khi học cách phát âm, nhả chữ, họ phải luôn tuân thủ những luật hát rất nghiêm ngặt. Đây là tập hợp những kinh nghiệm, thói quen về ngữ âm, nhận thức thẩm mỹ về thanh nhạc trong nghệ thuật tuồng của từng địa phương.
Diễn viên hát tuồng phải phát âm chính xác các dấu, rõ tiếng, không bị biến âm, không nói ngọng. Để hoàn thiện những yêu cầu trên thực sự không phải là việc đơn giản vì khi hát, nếu tập trung chú ý vào tròn vành, giữ âm vang đều thì diễn viên lại quên nhả chữ rõ, diễn cảm đúng tâm trạng…Vì vậy trước khi tập hát, các diễn viên thường tập nói, luyện ngữ âm, ngữ khí trong các kỹ thuật nói lối như một trong những phương thức nghệ thuật tinh tế nhằm biểu hiện cảm xúc của nhân vật đến với người thưởng ngoạn. Có thể xem đây như một trong những ngôn ngữ mang đậm yếu tố tượng trưng trong Tuồng. Ngoài ra, người học hát tuồng luôn tuân thủ nguyên tắc: trống/mái (theo qui luật âm/dương trong Dịch). [26]
Chính vì những đặc trưng nêu trên, không thể nghiên cứu nghệ thuật thanh nhạc trong tuồng như phân tích kỹ thuật hát một ca khúc. Đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam là tính ngẫu hứng. Điều này cũng đã không ngoại lệ đối với tuồng, vì vậy, cần nhìn phương diện thanh nhạc trong tuồng “bằng cái nhìn đối với một lời nói sân khấu bằng thơ được âm nhạc hoá” [27].
Văn Minh Hương
[18] Đây là nét độc đáo của sân khấu tuồng việt Nam. Người đánh trống chầu như một người thầy, người phê bình vở diễn chân thật nhất, giúp diễn viên yên tâm, phấn khởi với những tiếng trống khen ngợi và tự điều chỉnh lại cách hát, phong cách hát khi nghe tiếng dùi trống đánh vào tang trống để quở trách.
[19] Theo Trần Thanh Trung. Luận văn Cao học khoá V : “Vai trò của trống chầu trong tuồng Bình Định”. Nhạc viện Tp.HCM, 2002.
[20] Theo: Lý Khắc Cung, "Mối quan hệ sân khấu Việt Nam -Trung Quốc" (nhiều tác giả). Viện Nghiên cứu Sân khấu 1995.
[21] Theo thống kê của Ban nghiên cứu Tuồng, có khoảng 280 làn điệu và bài bản tuồng (dẫn theo Mịch Quang trong “Tìm hiểu nghệ thuật Tuồng”. Trang 82, Nhà xuất bản Văn hoá Nghệ thuật, 1963).
[22] Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối và tổng hợp. Có nhiều nhà nghiên cứu phân chia theo làn điệu và phân thành: 3 loại : làn điệu nhỏ, vừa và lớn (Mịch Quang, Tìm hiểu nghệ thuật tuồng, trang 83, Nhà xuất bản Văn hoá Nghệ thuật, 1963).
[23] Gồm các loại: xướng biệt, xướng thường, xướng lãng. Các lối xướng mang tính chất tự sự, kể lể hoặc than vãn.
[24] Người trong nghề gọi là láy dựng.
[25] Thán được viết theo thể văn tứ tuyệt, đường luật. Cùng là điệu thán, nhưng tùy cách hát láy khác nhau của diễn viên, sẽ tạo ra nhiều tâm trạng trong những tình huống kịch khác nhau.
[26] Khi hát vế trống người hát đẩy giọng lên và ở vế mái, người hát đưa giọng xuống, điều này bảo đảm sự cân đối, hài hoà cho âm điệu không gây chói tai hoặc quá khô cứng.
[27] Mịch Quang, “Tìm hiểu nghệ thuật tuồng”, dòng 5-6 trang 86, sách đã dẫn.