Quy luật tiến hành trong thang âm 7 cung căn bản là dựa trên lý thuyết về âm động và âm tĩnh. Trong một thang âm nhất định, những âm động có khuynh hướng tự nhiên là chuyển sang những âm tĩnh và giai điệu căn bản là dựa trên các âm tĩnh. Trong thang âm 7 cung, những âm 1, 3, 5 là âm tĩnh; những âm 2, 4, 7 là âm động.
Giải quyết âm động trong bước lần
Khi giai điệu hoạt động theo bước lần, các âm động nói chung phải giải quyết tức là chuyển sang âm tĩnh gần nó nhất :
Âm 7 tiến lên âm 1 (si-do)
Âm 6 hạ xuống âm 5 (la-sol)
Âm 4 hạ xuống âm 3 (fa-mi)
Nhưng nếu âm động nằm trong một nét giai điệu bước lần theo chiều của thang âm thì nó có thể đi ngược lại hướng giải quyết bình thường.
Bước nhảy và bước trùng
Với thang 7 cung nên phân biệt 2 loại bước nhảy:
a. Bước nhỏ gồm các quãng ba trưởng và thứ
b. Bước lớn gồm các bước nhảy xa hơn quãng ba trở đi.
Các bước nhỏ và bước trùng nói chung, đều là đẹp và dễ dùng. Ví dụ:
Những bước nhảy lớn (không quá quãng 8)
Nếu hai âm đều thuộc những hợp âm chủ yếu (tức là các hợp âm chủ, át, hạ át, 7 át) tiến hành lối phân giải, đều coi là chính đáng.
Phản hành
Sau bước nhảy lớn, giai điệu thường phải phản hành tức là đi ngược trở lại (phản hành khác chuyển hồi ở chỗ nó có thể dùng cả bước nhảy).
Luật phản hành có những ngoại lệ sau đây:
a) Sau bước nhảy có thể không phản hành ngay mà trì hoãn lại một phách rồi mới phản hành.
Nhảy vào âm động
Tới âm 7, có thể dùng bất cứ bước nhảy xuống và tới các âm 6 và 7 có thể dùng bất cứ bước nhảy lên nào cũng được miễn là sau đó các âm động được giải quyết theo phương hướng tự nhiên.
Với các bước nhảy 2 quãng 4 hoặc 2 quãng 5 liên tiếp là những trường hợp cần tránh.
Giải quyết âm động
Có thể trì hoãn sự giải quyết lại một hai phách bằng những âm trung gian. Những âm này nên đặt ở phách yếu.
Nhắc lại và mô phỏng
Do phép nhắc lại hoặc “mô phỏng” các âm hình, nhưng lối tiến hành không hợp quy tắc có thể biến thành chính đáng.
Nốt tô điểm và đường nét giai điệu
Nốt tô điểm
Nói chung, nốt tô điểm chỉ có ý nghĩa thêm thắt “tô điểm” làm cho các âm chính thêm màu sắc, duyên dáng. Cùng một nét nhạc như:Nếu ta thêm những nốt tô điểm, nét nhạc sẽ mềm mại, bay bướm hơn:
Đường nét giai điệu
Hoạt động của giai điệu làm thành đường nét giai điệu. Đường nét giai điệu thường phù hợp với mỹ cảm về hình, nét của chúng ta. Chúng ta có thể đề cập đến các đường nét giai điện như sau:
a) Đường thẳng: cảm giác sáng sủa, mạnh
b) Đường xiên: cảm giác hòa hài, bình yên
c) Đường sóng nhỏ: nhảy nhót, êm ái
d) Đường sóng lớn (rộng): thâm trầm
e) Đường đi lên: mở rộng, lạc quan, thường là phương pháp dẫn dắt đến cao trào.
Nhưng trong những trường hợp nhất định, nét tô điểm lại làm cho ngữ điệu thêm rõ và mạnh.
Nhiều khi âm tô điểm còn có công dụng làm nổi rõ một số thanh trong ngôn ngữ Việt Nam, cụ thể là những âm có dấu hỏi (?) hoặc dấu ngã ( ~).
Những lối “ngân”. Sau đây là một vài lối tô điểm rất phổ biến trong nhạc cổ dân tộc (đặc biệt là trong chèo cổ, dân ca miền Bắc). Chúng có thể tạm ví như những nốt “láy” (mordant) “lượn” (grupetto) hoặc “nét phóng túng” (trait) trong nhạc châu Âu. Sự phân loại căn cứ theo dạng và chiều của nét nhạc có tô điểm :
a) Ngân lên
b) Ngân xuống
c) Ngân láy
d) Ngân uốn lên
e) Ngân uốn xuống
f) Ngân lượn lên
g) Ngân lượn xuống
b) Nhảy vào một âm tĩnh không cần phải phản hành.
c) Có thể làm một bước trùng để rồi lại nhảy theo hướng cũ.
d) Có thể nhảy theo những âm trong cùng một hợp âm.
Nhưng nếu sau bước nhảy mà đổi hợp âm thì phải phản hành: