Thường thức âm nhạc
Để hiểu rõ thêm về ”Nhã nhạc”
[07:11 08/04/2004 (GMT+7)]
Để hiểu rõ thêm về ”Nhã nhạc” "

Ngày 07/11/2003 tại trụ sở ủy ban Unesco (Paris), tổ chức này đã chính thức công bố danh sách 28 di sản văn hóa phi vật thể của thế giới được công nhận, trong đó có "Nhã nhạc" Việt Nam.

Phạm vi và ý nghĩa của "Nhã nhạc" mà Unesco đề cập có gì khác với với "Nhã nhạc" cung đình triều Nguyễn? Rất nhiều người còn nhầm lẫn ở điểm này và nhất là sự nhầm lẫn giữa "Nhã nhạc" với "Dàn nhã nhạc" - một cơ cấu dàn nhạc của triều Nguyễn - và những "Dàn nhạc truyền thống" đang tồn tại trên phạm vi của thành phố Huế.

Hiện nay, các công trình nghiên cứu về âm nhạc truyền thống của các nước trên thế giới khi đề cập đến lĩnh vực âm nhạc cung đình khu vực Đông Á, người ta dùng những thuật ngữ như: Nhã nhạc (Việt Nam), Yayueh hoặc Yayue (Trung Quốc), Gagaku (Nhật Bản), AhAk (Hàn Quốc)... Gagaku (Nhật Bản) và Nhã nhạc (Việt Nam) đều có xuất phát từ tiếng Trung Quốc. Nhã nhạc được đọc theo âm Yayue của tiếng Hán, "nhã" theo nghĩa Hán Việt nghĩa là lịch sự, trang nhã; "nhạc" là âm nhạc. Nhã nhạc Việt Nam theo cách hiểu của Unesco là dòng âm nhạc cung đình của tất cả những triều đại vua chúa ở Việt Nam. Như vậy "Nhã nhạc" bao gồm nhạc hát, nhạc đàn và nhạc cho múa (vì vậy mà nhã nhạc cũng bao gồm cả múa cung đình).

Thuật ngữ "Nhã nhạc" có từ bao giờ?

Theo Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong "Việt Nam ca trù biên khảo" (Nhà xb Sài Gòn 1962) thì thuật ngữ "Nhã nhạc" xuất hiện từ thời Trung Hoa cổ đại, thời Hán Vũ Đế (140-86 trước CN) khi Hán Vũ Đế "định lễ Giao tự để tế thiên địa, tôn miếu và bách thần". Ở nước ta "Nhã nhạc" (theo nghĩa là dòng âm nhạc cung đình) từ thời nhà Đinh và Tiền Lê trở về trước, chúng ta chưa tìm thấy một tài liệu nào nói đến những sinh hoạt âm nhạc trong cung đình. Những tài liệu nói về những sinh hoạt âm nhạc cung đình còn lưu lại là từ đời nhà Lý. Thuật ngữ "Nhã nhạc" chúng ta có thể tìm thấy trong những cứ liệu như:

- Trong "Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam" của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trích dẫn đoạn văn mô tả lại buổi lễ Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh có đoạn viết "Đọc xong, Chiêu Hoàng đứng dậy, trút mũ áo, khoác vào cho Trần Cảnh... dưới sân nhã nhạc nổi lên".

- Đời nhà Lê, năm Thiệu Bình thứ 3 (1436), vua Lê Thái Tông sai Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi và Hoạn quan Lương Đăng định lại nhã nhạc (Theo "Khâm định Việt sử" quyển 17).

- Dưới triều vua Lê Thánh Tông (1470-1497), nhà vua  sai các quan văn thần kê cứu âm nhạc nước Tàu, đặt ra bộ Đồng văn và bộ Nhã nhạc để dạy ca, vũ, nhạc (Theo "Vũ trung tùy bút" quyển thượng, trang 27B).

v.v...

Đến thời nhà Nguyễn chúng ta thấy xuất hiện thuật ngữ "Nhã nhạc", nhưng trong phạm vi ngữ nghĩa hẹp hơn, đó là Dàn nhã nhạc - một trong rất nhiều loại dàn nhạc tồn tại và phát triển dưới triều Nguyễn.

Như vậy nếu hiểu "Nhã nhạc" theo nghĩa hẹp trong phạm vi những tổ chức dàn nhạc của triều Nguyễn thì "Nhã nhạc" chỉ là một cơ cấu dàn nhạc trong rất nhiều dàn nhạc của cung đình. Theo một số tài liệu như: "Âm nhạc cung đình triều Nguyễn" (Trần Kiều Lại Thủy - Nhà xb Thuận Hóa, 1997), "Những đại lễ và vũ khúc vua chúa Việt Nam" (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề - Nhà xb Văn học Hà Nội 1992), tài liệu "Âm nhạc truyền thống Việt Nam" (Gs Trần Văn Khê)... thì âm nhạc cung đình triều Nguyễn được chia ra làm 7 loại theo những nghi lễ, sinh hoạt của triều đình là: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc và Cung nhạc. Ở mỗi nghi lễ nói trên, có nhiều dàn nhạc phục vụ cho "ca công" và "vũ công" hoặc dàn nhạc tấu riêng  như một hình thức hòa tấu. Ta thấy các dàn nhạc trong các nghi lễ trên bao gồm: Bát âm, Ti trúc, Nhã nhạc, Đại nhạc, Quân nhạc, Nhạc huyền, Ty chung và Ty khánh, Ty cổ... trong đó Dàn nhã nhạc có mặt hầu hết trong các nghi lễ (ngoại trừ lễ Tế giao).

Nói như thế để cho chúng ta thấy vai trò quan trọng và phổ biến của Dàn nhã nhạc đối với âm nhạc cung đình triều Nguyễn. Nên khi Unesco công nhận "Nhã nhạc" là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, nhiều người lầm tưởng "Nhã nhạc" là "Dàn nhã nhạc" vừa nêu hoặc chỉ là những loại nhạc của cung đình Huế. Như trên chúng tôi đã có đề cập "Nhã nhạc" theo cách hiểu của Unesco, đó là dòng âm nhạc cung đình của các triều đại ở Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử phát triển của dòng âm nhạc cung đình này, chúng phát triển đáng kể nhất là vào triều Hậu Lê (1428-1527, không tính thời kỳ Lê-Trịnh) khi Lê Thánh Tông cho thành lập hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Điều đáng lưu ý ở giai đoạn này là sự mâu thuẩn tư tưởng cá nhân giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng. Thật ra đó là sự mâu thuẩn của tư tưởng đề cao âm nhạc dân tộc và tư tưởng vọng ngoại, cuối cùng nhà vua chuẩn tấu theo ý kiến Lương Đăng, dàn nhạc tổ chức thành "Đường thượng chi nhạc" và "Đường hạ chi nhạc" mà thực chất đó là sự bắt chước tổ chức 'Nhã nhạc" thời nhà Minh của Trung Hoa. Đến thời Lê Thánh Tông, bộ Lễ lại định ra "Quốc nhạc" và "Tục nhạc". "Quốc nhạc" do hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc phụ trách còn "Tục nhạc" thì thành lập "Ty giáo phường" ngoài dân để trông coi. Nhưng khi nhà Lê suy thoái, tổ chức Đồng văn Nhã nhạc cũng suy sụp theo, rất nhiều nghi lễ trong triều phải mời "Ty giáo phường" bổ sung.

Đời nhà Nguyễn có thể nói là thời kỳ phát triển cực thịnh của dòng âm nhạc cung đình Việt Nam. Tuy triều Nguyễn vẫn tiếp thu "Nhã nhạc" cung đình nhà Thanh nhưng yếu tố dân gian lại thể hiện đậm nét hơn. Nhà Nguyễn cho thành lập "Viện Giáo phường" (thay cho "Ty Giáo phường" trước đây của nhà Lê) để tuyển mộ, nhạc công, ca công, vũ công, sử dụng một số nhạc cụ gõ mà mấy thế kỷ trước không còn sử dụng như; chuông, khánh, huân, trì, chúc, ngữ.... cùng với lực lượng đông đảo các nghệ nhân dân gian tham gia qua việc quan Lộc khê hầu Đào Duy Từ được chúa Nguyễn giao cho thành lập "Hoà thanh thự" đã tập hợp một đội ngũ nghệ nhân nhạc, ca, vũ công lên đến 300 người. Và đến triều Minh Mạng trở về sau, rất nhiều tổ chức dàn nhạc ra đời mà chúng ta biết như ngày hôm nay.

Như vậy để bảo tồn nhã nhạc - tức âm nhạc cung đình Việt Nam (bao gồm ca, múa, nhạc) của tất cả các triều đại, không phải là chuyện đơn giản. Bởi có nhiều loại nhạc cụ giờ đây không còn hoặc không có người sử dụng, trong mỗi thời kỳ khác nhau lại có những cơ cấu tổ chức khác nhau. Ngay ở triều Nguyễn, tổ chức dàn nhạc nói chung và Dàn nhã nhạc nói riêng, ở mỗi triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... cũng đã có những sự khác nhau.Có nhiều vấn đề mà chúng ta chỉ bảo tồn được "thần thái" của "Nhã nhạc" chứ không thể tái hiện hoàn toàn như xưa. Song "thần thái" đó như thế nào là vấn đề khá trừu tượng đòi hỏi sự hợp tác của nhiều ngành trong xã hội.

  • Hữu Trịnh

Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX