- Nhạc cổ điển
- Nhạc trẻ
- Âm nhạc dân gian
- Bàn tròn âm nhạc
- Lý luận - Phê bình
- Tác giả - Tác phẩm
- Gương mặt ca sĩ QT
- Nhóm nhạc
- Thường thức âm nhạc
- Nói chuyện sáng tác
- Thời trang và nghệ sĩ
- 1001 sự cố
- Chuyện giờ mới kể
- Đời thường nghệ sĩ
- Góc xấu của "Sao"
- Hậu trường ca nhạc
|
Bài 3: Phổ nhạc và phổ lời
[08:33 25/04/2004 (GMT+7)]
I. Ba phương thức sáng tác
1. Căn cứ vào một bài thơ, đoạn văn có sẵn (do người khác hoặc chính người viết nhạc soạn) tạo ra phần âm nhạc phù hợp với ý tứ cũng như với thanh âm của chúng: đó là phương thức phổ nhạc. Thí dụ: bài hát Ngày về là thơ của Chính Hữu do Lương Ngọc Trác phổ nhạc; bài hát Thằng Bờm là một bài vè cổ do Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc. 2. Ngược lại với lối sáng tác như thế là cách đặt lời lên một nhạc điệu đã viết trước (có thể là do một tác giả khác). Thí dụ: Tiếng chim hòa bình nhạc của Tạ Phước, do Tô Vũ phổ lời. 3. Ngoài hai lối đó, có thể còn một phương pháp thứ ba: đó là lối sáng tác cả nhạc lẫn lời cùng một lúc (dưới đây ta sẽ trở lại kỹ hơn về phương pháp này). II. Phổ nhạc Điều nhận xét trước tiên cho ta thấy, đây là lối thông dụng nhất trong truyền thống ca nhạc Việt Nam. Các bản dân ca hoặc chèo cổ đại đa số đều là những bài phổ nhạc với những câu thơ lục bát. Thí dụ: điệu Cò lả là phổ nhạc theo câu ca dao: “Con cò bay lả bay la…”. Lối sáng tác này có ưu điểm là dễ làm nổi bật dân tộc tính của nhạc phẩm. Do chỗ dựa trên thanh âm (hoặc tiết tấu) của điệu thơ (nhất là thơ lục bát) mà dựng nét nhạc, những bài phổ nhạc thường ghi được những hình giai điệu (hay tiết tấu) có màu sắc đặc biệt của dân tộc. Đọc câu Hồi tiếu: Nếu không có âm thanh câu thơ quyết định, chúng ta tin chắc có tác giả viết nên những nét nhạc (trúc trắc) như vậy, nhất là khi tác phong phổ lời đã làm thính giác chúng ta quen với những giai điệu dịu dàng hơn, uốn lượn hơn. Nhưng mặc dầu có ưu điểm lớn ấy, phương thức phổ nhạc lại chứa đựng một nhược điểm rất khó tránh đối với người mới học sáng tác. Do sự chuyên chế của thanh âm câu thơ, nét nhạc bị ép phải theo những hướng lên xuống nhất định nên dễ rơi vào những công thức cổ lão. Một mặt khác, vì thanh âm thơ có thể thay đổi theo thi luật (các thanh phù, trầm có thể tùy tiện thay đổi; các thanh bằng, trắc ở những chữ lẻ: nhất, tam, ngũ không buộc phải “phân minh”…), nhạc điệu khó áp dụng được những kỹ xảo đặc biệt của nghệ thuật âm nhạc, ví dụ như sự nhắc lại nguyên dạng một câu hay một đoạn. Cho nên một khuyết điểm thường thấy trong các bản phổ nhạc là sự thiếu tính cách nhất trí (về mặt cấu trúc hình thức). Đây là lối thịnh hành trong số những người sáng tác nhạc mới. Từ phong trào dùng lời Việt phổ vào những ca khúc nước ngoài, nó đã thoát thai do sự cố gắng của một số nhạc sỹ tiên phong phản ứng lại cái mốt lố lăng ”bài ca ta theo điệu Tây”. Phỏng theo tác pháp của những nhà soạn lý ca (chansonnier) thời những Adrien Lamy, Tino Rossi, Nino Martini…, họ đã mạnh dạn xây dựng những nhạc điệu “xứ sở” cho ca từ dân tộc. Ưu khuyết điểm của phương thức phổ lời hoàn toàn ngược lại với phương thức phổ nhạc. Ý nhạc ở đây được tự do phát triển, tác phẩm dễ có nhất trí, bố cục dễ được vững chắc. Trái lại, vì lời phải theo nhạc, sự gò ép lời ca là chuyện thường xảy ra. Nhưng ở đây mới chỉ là một bất tiện nhỏ. Điều đáng chú ý ở phương thức này là ở chỗ: vì thiếu sự kiềm chế của một nhân tố dân tộc (ở đây là ngôn ngữ), người sáng tác nếu không có sự tu dưỡng chắc chắn về âm nhạc dân tộc rất dễ lâm vào cảnh nhắc lại - có thể là vô tình - những ảnh hưởng ngoại lai (1). Điều đó đã được chứng minh cụ thể, cả ở trong những tác phẩm kháng chiến tương đối có cốt cách dân tộc hơn hết. IV. Phương pháp tổng hợp Chắc trong chúng ta ai cũng có dịp chứng kiến (hay tự bản thân thí nghiệm), một người trong lúc cao hứng đã hát nghêu ngao những câu vụt nảy ra trong đầu. Nếu người đó lại chính là một nhạc sỹ biết lợi dụng những âm thanh phát xuất trong lúc cảm hứng ấy làm nguyên liệu sáng tác, thì chúng ta có một thí dụ hoàn toàn về một lối sáng tác tạm gọi là ”phương pháp tổng hợp”. Như vậy, xét về lý thuyết không có gì cản trở ta dùng một phương pháp tương tự làm lối sáng tác chính quy, nhất là (cũng cứ lý thuyết) ta nhận thấy dễ dàng đây là một lối soạn ca khúc tương đối hoàn chỉnh hơn hết, vì nó đủ điều kiện để thâu nạp tất cả những ưu điểm của hai lối trên, lại đồng thời tránh được những nhược điểm cố hữu của mỗi lối đó. Nếu có cần phải phàn nàn một điều gì thì điều đó chỉ là sự khó áp dụng nó vào thực hành, do chỗ đòi hỏi người sáng tác một thói quen hơi khác thường: sự tập trung tư tưởng vào hai điểm cách biệt phải giải quyết cùng một lúc. V. Giải pháp cá nhân Vậy tóm lại, ta nên theo phương thức nào: nhạc trước, lời trước hay cả hai cùng một lúc? Như ta đã thấy, mỗi lối đều có ưu điểm, khuyết điểm và thực tế trong mỗi lối cũng đều đã có những thành công và những thất bại. Như vậy chúng ta sẽ không máy móc đề cao một phương thức nào một cách tuyệt đối (mặc dầu theo lý thuyết, phương thức cuối cùng có thể xem là khá hoàn hảo). Giải pháp của chúng ta là linh động, tùy theo từng trường hợp cụ thể và mỗi người sáng tác sẽ chọn cho mình một phương thức phù hợp nhất. Khi đã chọn một phương pháp làm chính, chúng ta cũng không quên khai thác hai phương pháp kia, xem như những phương pháp luyện bút quý báu. Với người quen dùng lối phổ lời, tập phổ nhạc là một liều thuốc thần hiệu chữa cái bệnh “ngoại lai hóa”, cũng như với người chỉ ưa phổ nhạc, tập phổ lời là một cách mang lại nhiều hiệu quả để mài giũa kỹ thuật cấu trúc âm thanh một cách chặt chẽ hơn. Và đối với cả hai người đó, phương pháp tổng hợp là một thí nghiệm nhiều hứa hẹn để gây ý thức về “thanh nhạc” (musique vocale) một ý thức cần thiết cho người sáng tác ca khúc.
|
Các nguyên tắc lập, tiến hành hợp âm cho ca khúc
”Phá tan” huyền thoại về đàn Stradivari
Hòa âm cho ca khúc
Không gian biểu diễn trong các bản mix âm nhạc
Không gian âm thanh 3 chiều trong các bản mix ca nhạc
Bàn về Âm nhạc tuyệt đối
Bàn về Âm nhạc tuyệt đối: Daniel K. L. Chua
Hình thức âm nhạc
Mỹ học âm nhạc: Điệu tính (Tonality)
Trăm năm trong cõi người ta…
Cửu dương xúc cốt công