Thường thức âm nhạc
Những nhạc cụ chính của bộ đồng: - Cor
[08:38 25/01/2004 (GMT+7)]
Những nhạc cụ chính của bộ đồng: - Cor "

Trong dàn nhạc, bộ đồng thích hợp với những sắc thái mạnh, có tính chất kêu gọi. Đặc biệt ở những đoạn cao trào, bộ đồng là những nhạc cụ hỗ trợ đắc lực cho việc tạo nên âm lượng lớn và không khí hoành tráng. Ưu điểm của bộ đồng là giàu kịch tính, rực rỡ, chói lọi.

Sơ lược về bộ đồng (cuivre)

Tiền thân của các nhạc cụ hơi bằng đồng là sừng đi săn, tù và, kèn hiệu quân đội. Những tiền bối của bộ kèn đồng: trembit (kèn cổ Ukraina dài 3 mét) trimitas, (kèn cổ Litva dài khoảng 1 mét), các loại tù và bằng sừng súc vật, vỏ ốc lớn, kèn Karnai (vùng Uzbêch và cả ở vùng Trung Cận Đông làm bằng đồng thau), kèn clairon (kèn hiệu nhà binh)...

Khác với các nhạc cụ gỗ, trừ flûte, các nhạc cụ khác đều ngậm dăm kèn vào giữa hai môi. Còn ở nhạc cụ đồng thì nhạc công đặt môi vào miệng kèn (embouchure) để thổi. Hơi thổi vào làm chấn động cột không khí trong ống kèn, chỗ thoát hơi bao giờ cũng mở rộng ra tạo thành loa kèn. Thân kèn rất dài nên chúng thường cuộn tròn hoặc gấp khúc lại (có thể) thành nhiều vòng cho gọn. Độ cao của kèn là do sự dài ngắn của ống kèn quyết định. Các loại kèn đồng cổ phát ra các âm của thang âm tự nhiên, các âm cộng hưởng thấp thì thổi ra dễ dàng, nhưng các âm cộng hưởng cao thì khó hơn, phải thổi hơi mạnh và môi mím căng hơn.

Thân ống kèn càng dài, đường kính càng bé thì càng tạo ra được nhiều âm cộng hưởng hơn, trái lại, thân ống càng ngắn, đường kính to thì càng dễ tạo ra các âm trung và các âm trầm. Cho nên những nhạc cụ có ống kèn dài và đường kính hẹp (như kèn cor) thì thang âm tự nhiên có từ âm cộng hưởng thứ 2 cho đến âm cộng hưởng thứ 16, còn những nhạc cụ ống kèn ngắn và đường kính rộng như (kèn trompette) thì chỉ cho ta một phần của thang âm tự nhiên từ âm cộng hưởng thứ 2 đến thứ 8, thứ 9 và có thể đến thứ 10 mà thôi. Kèn cor không những thổi được các nốt quãng 5, 4, 3, mà cả nốt quãng 2 ở âm vực cao, nên nó là một nhạc cụ chơi giai điệu tốt, có thể thay đổi cao độ của từng âm cộng hưởng bằng cách “nén âm”. Nếu ta lấy bàn tay nhét vào miệng loa thì âm tự nhiên trầm thứ 5 phần nào bị hạ thấp xuống, trong lúc những âm tự nhiên cao hơn âm cộng hưởng thứ 5 thì lại có phần cao hơn, âm thanh phát ra tối đục - những âm như vậy gọi là âm bị nén.

Đến đầu thế kỷ 19, kèn đồng được cải tiến, trang bị thêm các cần xoay nắp hơi hoặc cần piston, để kéo dài hay thu ngắn thân ống kèn, tạo ra hàng âm chromatique (các âm cách nhau nửa cung) làm cho kèn đồng có khả năng diễn tấu rất lớn.

Các nhạc cụ bộ đồng không linh hoạt như các nhạc cụ dây hoặc gỗ, nhưng âm thanh vang, cộng minh và tương đối thống nhất. Ở âm vực cao, âm sắc bộ đồng tươi sáng còn ở âm vực trầm thì tối, đặc. Những nhạc cụ chính của bộ đồng là cor, trompette, trombone và tuba.

Kèn cor

(Tiếng Pháp: cor, Ý: corno, Anh: French horn, Trung Quốc: Pháp quốc hiệu)

Trước kia, trong dàn nhạc chỉ sử dụng loại kèn cor tự nhiên (natural). Cor được dùng nhiều loại, mỗi loại phù hợp với một giọng. Từ khi cor bán cung (chromatique) ra đời, người ta sử dụng loại có giọng Fa (âm thanh thực khi thổi ra thấp hơn nốt viết 1 quãng 5 đúng), vì vậy cor là loại nhạc cụ dịch giọng.

Năm 1664, kèn cor lần đầu tiên được nhạc sĩ J.B.Lully (người Pháp gốc Ý) đưa vào dàn nhạc. Ngày nay, trong các dàn nhạc giao hưởng, kèn cor giọng F (Fa) được sử dụng nhiều hơn cả. Trong dàn nhạc hơi (dàn kèn đồng), dùng kèn cor giọng giọng Es (Mi giáng).

Trong dàn nhạc, kèn cor đi từng đôi (1, 2, 3 hoặc 4 đôi). Tiếng kèn cor thường phát ra chậm hơn so với các nhạc cụ khác do thân kèn dài (cuốn nhiều vòng). Cor là kèn có âm vực rộng nhất trong bộ đồng, âm thanh kèn cor vang và ấm, âm chất đẹp, nhiều chất thơ, giàu diễn cảm. Về độ nhanh nhạy, cor không thể sánh với các kèn gỗ, nó chỉ thích hợp với các giai điệu khoan thai, mềm mại, uyển chuyển, hơi thở rộng rãi (như đoạn đơn diễn đầy thơ mộng trong chương Andante - Giao hưởng số 3 của Tchaikovsky). Âm thanh kèn cor vừa mềm mại như tính chất của kèn gỗ vừa cương nghị với tính chất kim loại của nhạc cụ đồng, vì vậy nó được xem là nhạc cụ trung gian giữa hai bộ này.

Âm vực và tính chất âm thanh của kèn cor:

1. Âm khu cực trầm: âm thanh phát ra hơi nặng, không nhạy, chỉ dùng chơi âm trì tục, ít khi chơi giai điệu.
2. Âm khu trầm: hiệu quả hơn âm vực cực trầm càng lên cao âm thanh càng ổn định hơn.
3. Âm khu giữa: rất phong phú, uyển chuyển, mềm mại. Đây là âm khu đẹp nhất của cor, rất dễ sử dụng và phù hợp với các giai điệu trữ tình.

4. Âm khu cao: âm thanh sáng, rắn rỏi.
5. Âm khu cực cao: ít dùng vì tiếng không tròn, tính chất căng thẳng, khó thổi ở sắc thái nhẹ.

Trong dàn nhạc, cor thường được sử dụng để chơi giai điệu. Âm thanh kèn cor hơi mơ hồ, nếu kết hợp với các nhạc cụ khác, âm thanh kèn cor sẽ chặt chẽ hơn. Ngoài bộ đồng, kèn cor cũng rất dễ kết hợp với các nhạc cụ dây hoặc gỗ.

Ngoài cách diễn tấu thông thường, có khi kèn cor được chổng ngược loa lên trời tạo nên những âm thanh rất vang, lấn át cả dàn nhạc. Cách dùng bộ hãm tiếng với sourdine hoặc lấy nắm tay đặt vào loa kèn sẽ tạo nên những âm thanh xa xăm, mờ ảo.

Lý Trọng Hưng - Hữu Trịnh

Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX