Thường thức âm nhạc
Tìm hiểu âm nhạc cung đình triều Nguyễn
[14:18 14/11/2003 (GMT+7)]
Tìm hiểu âm nhạc cung đình triều Nguyễn "

Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc (triều Nguyễn) - là di sản văn hoá đầu tiên của Việt Nam được UNESCOcông nhận là di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

Chúng tôi giới thiệu bài "Tìm hiểu âm nhạc cung đình triều Nguyễn" để bạn đọc có một hình dung khái quát về loại hình nghệ thuật này.
Triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam được tính từ năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long, và kết thúc vào năm 1945 khi vua Bảo Đại thoái vị. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của xã hội Việt Nam.
Xét riêng về lĩnh vực văn hoá, triều Nguyễn có những đóng góp lớn cho nghệ thuật âm nhạc của dân tộc ta. Đó là sự kế thừa âm nhạc cung đình của những triều đại phong kiến trước đó, đồng thời sáng tạo ra nhiều thể loại, nhiều tổ chức dàn nhạc phong phú.
Tuy triều Nguyễn kéo dài trong 143 năm, nhưng sự phát triển và hưng thịnh của âm nhạc triều Nguyễn chỉ trong vòng gần một thế kỷ. Thời vua Tự Đức, khi người Pháp nổ phát súng đầu tiên tấn công vào Đà Nẵng (1858) cũng là thời điểm triều đình nhà Nguyễn bắt đầu dồn sức vào cuộc chiến chống ngoại xâm, quan tâm đến âm nhạc chỉ là thứ yếu. Nhà Nguyễn suy tàn, âm nhạc cung đình triều Nguyễn cũng mai một và tàn lụi.
Có lẽ do cách nhìn nhận nghề ca hát chỉ là "xướng ca vô loài" mà lịch sử Việt Nam hầu như không có sách vở kê cứu chi tiết, chuyên ngành về những sinh hoạt, tổ chức âm nhạc. Chúng ta chỉ thu nhặt được những chi tiết vụn vặt về nghệ thuật âm nhạc thông qua các sách sử. Cho nên, ngày nay việc tìm hiểu, nghiên cứu những sinh hoạt âm nhạc thời xưa của dân tộc là vô cùng khó khăn. Âm nhạc cung đình triều Nguyễn cũng nằm trong trường hợp đó.
Nhã nhạc là một tổ chức dàn nhạc trong số những tổ chức dàn nhạc của cung đình triều Nguyễn. Dàn Nhã nhạc được dùng trong rất nhiều nghi lễ vì vậy nó diễn tấu nhiều bài bản và nhiều thể loại khác nhau. Ngày nay, Nhã nhạc được hiểu với nghĩa rộng hơn: đó là toàn bộ hệ thống bài bản, thể loại, hình thức diễn tấu, cơ cấu dàn nhạc... của dàn Nhã nhạc.
Để có một cái nhìn khái quát về âm nhạc cung đình triều Nguyễn, chúng ta hãy điểm qua hai lĩnh vực chính, đó là các loại dàn nhạc và các thể loại trong nhạc lễ cung đình.
Các loại dàn nhạc phục vụ các cuộc lễ
Các tổ chức dàn nhạc chính của âm nhạc cung đình triều Nguyễn có thể kể đến các loại dàn nhạc như sau:
1. Dàn Nhã nhạc
Dàn Nhã nhạc trong các buổi đại triều, thường triều và lễ Tế giao, thường gồm  19 nhạc công với 11 chủng loại nhạc cụ:  2 trống con, 2 trống tiểu bồng, 1 trống phong yêu, 2 đàn nguyệt, 2 đàn tam, 2 hồ, 2 nhị, 2 kèn bầu, 1 sênh tiền và 1 tam âm.
2. Dàn Nhạc huyền
Xuất hiện năm Minh Mạng thứ 19 (1938), dàn Nhạc huyền dùng lại một số nhạc cụ của Trung Hoa mà từ thời Lý đã bị loại bỏ: huân, tri, chúc, biên chung, biên khánh... Biên chế dàn Nhạc huyền theo khảo cứu của Gs. Trần Văn Khê trong "La musique Vietnamienne traditionnelle" như sau: 1 kiến cổ (trống), 1 bác chung (chuông lớn), biên chung (gồm 12 chuông nhỏ), biên khánh (gồm 12 khánh nhỏ), 1 phục phụ (trống da hai mặt), 1 chúc, 1 cố, 2 đàn cầm, 2 đàn cắt, 2 bài tiêu, 2 tiêu, 2 địch, 2 sinh, 2 huân, 2 trì và 1 phách bản.
Ngoài ra, theo khảo cứu của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong "Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam" thì dàn Nhạc huyền bao gồm: 1 trống lớn, 1 chuông lớn, 12 chuông nhỏ, 1 khánh lớn, 12 khánh nhỏ, 1 phục phụ, 1 cái chúc, 1 cái ngữ, 1 trống nhỏ, 2 đàn cầm, 2 đàn sắt, 2 tiêu lớn, 2 tiêu nhỏ và 2 sáo.
3. Ti trúc tế nhạc hay Tế nhạc  (còn gọi là Tiểu nhạc)
Ti trúc tế nhạc là dàn nhạc nhỏ gồm các nhạc cụ có cấu tạo tre trúc hoặc dây tơ. Ti trúc tế nhạc gồm có 8 nhạc cụ gồm 4 nhạc cụ hơi, 1 đàn tam, 1 đàn tỳ bà, 1 đàn nhị, 1 đàn nguyệt.
4. Đại nhạc
Là dàn nhạc lớn gồm nhạc cụ gõ và nhạc cụ hơi. Theo "La musique Vietnamienne traditionnelle" của Trần Văn Khê, dàn Đại nhạc gồm 43 nhạc công với số lượng nhạc cụ như sau: 20 trống, 8 minh ca (sáo bằng lá sậy), 4 câu giốc (tù và bằng sừng trâu), 4 sa la, 4 tiểu sa, và 3 hải loa (ốc biển). Nhưng theo "Tư liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam" của Dương Quang Thiện thì dàn Đại nhạc gồm 39 nhạc công với các nhạc cụ như sau: 20 trống, 8 sáo, 4 sala, 4 tiểu sa, 2 tù và ốc biển và 1 tù và sừng trâu.
5. Ty chung và Ty khánh
Ty chung là nhóm đánh chuông và Ty khánh là nhóm đánh khánh. Các nhạc cụ bao gồm: bác chung (chuông lớn), biên chung (12 chuông nhỏ), đặc khánh (khánh lớn), biên khánh (12 khánh nhỏ). Nhạc công gồm 6 người (đánh bác chung: 1 người, biên chung: 2 người, đặc khánh: 1 người và biên khánh: 2 người).
6. Ty cổ
Cho đến nay, dàn nhạc này chưa được tìm hiểu tường tận, chỉ biết rằng đó là một ban nhạc gồm 7 nhạc công, có mặt trong lễ Tế giao.
7. Dàn Nhạc thiều
Dùng trong các buổi Hưng quốc khánh niệm, Tết Nguyên đán, lễ kết hôn của các hoàng tử, công chúa, tiếp đãi sứ thần... Dàn nhạc gồm: trống cái, trống con, trống tiểu bồng, đàn tỳ bà, đàn tam, đàn nguyệt, đàn hồ, đàn nhị, sáo, kèn, sinh tiền, tam âm, chuông đồng, khánh đá, đàn sến, đàn cầm, đàn tranh, mõ, song lan.
8. Những dàn nhạc khác
Ngoài những dàn nhạc nêu trên chúng ta còn thấy một số tổ chức dàn nhạc khác như sau:
Dàn quân nhạc (?): Trong "Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam" (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề), trong phần mô tả Đại nhạc, có đề cập đến một dàn nhạc với số lượng nhạc cụ gồm: 20 trống lớn, 8 kèn, 4 thanh la lớn, 4 thanh la nhỏ 4 tù và nhỏ bằng sừng trâu do các nhân viên Ty kỳ cổ  mặc binh phục khi diễn tấu. Chính vì vậy mà người ta đoán rằng có thể đây là dàn quân nhạc.
- Dàn nhạc diễn tấu trong lễ Khánh thọ lục tuần Hoàng Thái hậu năm 1827. Dàn nhạc này gồm: trống bộc, trống con, trống lớn, phách, sinh tiền, đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tỳ bà, đàn tam, đàn nhị, địch và quản.
- Dàn nhạc dùng trong tuồng: gồm trống chầu, trống chiến, trống bản, trống cơm, trống bồng, trống lệnh, kèn, nhị, sáo, thanh la.
- Dàn nhạc nghi lễ cúng tế: gần giống với dàn nhạc bát âm ngoài dân gian.
- Các dàn nhạc kèn của vua Khải Định (các loại kèn Tây và một số nhạc cụ dân tộc)
Các thể loại trong nhạc lễ cung đình
Nhạc lễ cung đình là loại nhạc dùng để phục vụ cho các lễ nghi, cúng tế. Nhạc lễ cung đình triều Nguyễn gồm 7 loại như sau:
1. Giao nhạc
Giao nhạc là thể nhạc dùng trong lễ Tế giao (tế trời). Lễ này bắt nguồn từ Trung Hoa cổ đại, thường tổ chức vào tiết Đông chí (tháng 11 âm lịch) và tiết Hạ chí (tháng 5 âm lịch). Triều Nguyễn tổ chức lễ Tế giao mỗi năm một lần, đàn Tế giao được xây dựng vào năm Gia Long thứ 5 (1806) ở phía nam kinh thành Huế gọi là Đàn Nam giao. Đến năm Thành Thái thứ 2 (1890), đổi lại 3 năm tế một lần.
Lễ Tế giao gồm 64 vũ công múa văn và múa võ, dàn nhạc tấu 9 bài ca mang chữ "Thành" gọi là Cửu thành  (Hiển thành, Cảnh thành, An thành, Gia thành, Mỹ thành, Thụy thành, Vĩnh thành, Tuy thành và Hựu thành) và tất cả các loại dàn nhạc đều có mặt trong Giao nhạc.
2. Miếu nhạc
Là thể nhạc dùng trong các cuộc tế miếu. Tế Thái miếu, Triệu miếu (miếu thờ Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn khác), tế Thế miếu, Hưng miếu (miếu thờ vua Gia Long và các vua Nguyễn), tế Văn miếu (miếu thờ Khổng tử và các tiến sĩ đời Nguyễn), tế Liệt miếu (miếu thờ các anh hùng dân tộc).
Tế miếu Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng và Gia Long sử dụng 9 bài ca mang chữ "Hòa" (Hàm hòa, Gia hòa, Tường hòa, Dự hòa, Ninh hòa, Mỹ hòa, Túc hòa, An hòa và Ung hòa), tế miếu thờ các vua Nguyễn khác có 6 bài ca mang chữ "Huy" (Cảnh huy, Diên huy, Sùng huy, An huy, Minh huy và Thọ huy) tế Văn miếu có 6 bài ca mang chữ "Văn" (Cảnh văn, Chiêu văn, Ý văn, Hiển văn, Bỉnh văn, và Huy văn) và tế Liệt miếu (trước năm 1831) có 6 bài ca cũng mang chữ "Hòa" (Hàm hòa, Thọ hòa, Dự hòa, Ninh hòa, An hòa và Ung hòa). Sau năm 1831 có thêm 3 bài nữa là: Gia hòa, Mỹ hòa và Túc hòa).
Dàn nhạc thì có: Ti trúc tế nhạc, Nhạc huyền, Ty chung, Ty khánh do 8 nhạc công và 64 vũ công (có khi là 32) biểu diễn.
3. Ngũ tự nhạc
Là loại nhạc dùng trong lễ tế Thành hoàng, Xã tắc và Thần nông. Dàn nhạc gồm: Nhạc huyền, Đại nhạc và Nhã Nhạc. Có 64 vũ công (có khi là 32). Ngũ tự nhạc có 7 bài ca mang chữ "Phong" (Diên phong, Tuy phong, Tư phong, Mậu phong, Hòa phong, Dự phong, Khánh phong)
4. Đại triều nhạc
Là thể nhạc dùng trong các dịp lễ lớn, trọng đại của triều đình hoặc Hoàng tộc như ngày rằm, mồng một, Tết Nguyên đán, lễ Thánh thọ, Vạn thọ, Đăng quang, tiếp đãi sứ thần nước ngoài... Trong các lễ đại triều có 5 bài ca mang chữ "Bình" (Lý bình, Túc bình, Khánh bình, Di bình, Hòa bình). Ngoài ra trong lễ tứ tuần vua Minh mạng (1830) có 7 bài ca mang chữ "Thọ" (Nguyên thọ, Trinh thọ, Vĩnh thọ, Gia thọ, Hy thọ, Hiến thọ, Tuy thọ), trong lễ Hưng quốc khánh niệm vào năm Khải Định thứ 4 (1919) có 6 bài ca mang chữ "Hòa" (Hàm hòa, Tường hòa, Mỹ hòa, Túc hòa, An hòa, Ưng hòa). Dàn nhạc trong Đại triều nhạc gồm  Đại nhạc và Tế nhạc.
5. Thường triều nhạc
Vào các ngày 5, 10, 20, 25 hằng tháng, lễ Thường triều được tổ chức tại điện Cần Chánh. Dàn nhạc dùng trong Thường triều nhạc là Tế nhạc, 17 bài nhạc trong Tế nhạc sau này còn được dùng là: Làn thảm khúc, Khiết giới khúc, Hồ ngạn, Hựu trường, Hồi ba, Vũ ba đăng, Xuân tinh điểu ngữ, Ngọa nam dương, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Đăng lâu, Tiểu khúc, Bắc xướng, Tẩu mã và Tam thiên khúc.
6. Yến nhạc
Là loại nhạc dùng trong các buổi yến tiệc lớn ở trong triều. Dàn nhạc dùng trong yến nhạc là dàn Tế nhạc. Thời gia Long dùng 5 bài ca có chữ "Thành" (Bao thành, Bình thành, Doãn thành, Mỹ thành, Khánh thành). Trong đó bài Mỹ thành được thay thế cho bài Triệu thành vào năm 1822 và đổi thành bài Gia thành vào năm 1927.
Từ 1930, năm khúc nhạc mang chữ "Thành" đổi thành chữ "Phúc" (Canh phúc, Hoàng phúc,Thuận phúc, Sùng phúc và  Diên phúc). Từ 1940, lại đổi thành 5 khúc nhạc mang chữ "Khánh" (Hy khánh, Hoàng khánh, Thuận khánh, Sùng khánh và Tuy khánh). Đến  năm 1940, các khúc nhạc lại mang chữ "Hỷ"  (Ngung hỷ, Phồn hỷ, Thuận hỷ, Gia hỷ và Diên hỷ). Tuy nhiều lần thay đổi nhưng chỉ là thay đổi tựa đề còn nội dung thì vẫn giữ nguyên.
7. Cung nhạc
Là thể nhạc dùng trong Từ cung (cung Hoàng thái hậu) hoặc trong cung thất. Ngoài dàn Nhã nhạc còn có đội nữ nhạc, 5 khúc hát ở trong cung Hoàng thái hậu đều mang chữ "Khánh" (Sùng khánh, Tập khánh, Chương khánh, Bảo khánh và Thành khánh).
Sơ nét về thang âm điệu thức
Âm nhạc cung đình triều Nguyễn cũng mang đặc điểm chung của âm nhạc Việt Nam, đó là không có sự định chuẩn về cao độ âm thanh mà cao độ đó chỉ là ước lượng (khác với âm nhạc châu Âu, mỗi cao độ âm thanh được xác định bằng một tần số - ví dụ nốt La có tần số là 440Hz). Nhạc cung đình triều Nguyễn sử dụng điệu thức 5 âm, song tùy theo sự nhấn, rung ở những bậc khác nhau mà nó tạo thành hệ thống "hơi". Hệ thống hơi trong âm nhạc cung đình triều Nguyễn cũng là hệ thống hơi trong âm nhạc dân gian Thừa Thiên - Huế. Hệ thống hơi đó là: hơi Bắc, hơi Nam (Nam Xuân và Nam Ai) và hơi Dựng. Hơi Dựng là  hình thức luân chuyển điệu thức trong một bài nhạc, là hình thức chuyển từ hơi này sang hơi khác. Thông thường trong âm nhạc cung đình chỉ sử dụng 2 loại hơi để tạo nên hơi Dựng.
  • Hữu Trịnh
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX