Thường thức âm nhạc
Sonate - Những kiến thức cơ bản
[08:17 15/11/2003 (GMT+7)]
Sonate - Những kiến thức cơ bản "

Theo các nhà nghiên cứu, lý luận âm nhạc, sonate “vừa là một hình thức âm nhạc (musical form), vừa là một thể loại (style)”.

Một tác phẩm âm nhạc có thể mang cấu trúc của sonate, khi đó, người ta gọi tác phẩm đó mang “hình thức sonate”. Bên cạnh đó, sonate còn là một loại tác phẩm âm nhạc, tương tự như oratorio, opera, concerto, v.v…, khi đó người ta có “thể loại sonate” hay “liên khúc sonate”.
Cấu trúc của hình thức sonate:
Đây là cấu trúc bên trong của một chương trong bản sonate, concerto hay song tấu, tam tấu, v.v… Hình thức sonate trình bày, phát triển và tái hiện những chủ đề tương phản. Sự tương phản ở đây không phải chỉ về hình thức mà cả về nội dung. Hình thức sonate có khả năng diễn tả và phản ánh một cách sâu sắc nhất những suy tư và đời sống tình cảm của con người, cũng như những tư tưởng triết lý phức tạp. Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử âm nhạc, hình thức sonate không ngừng được phát triển và hoàn thiện, đạt được nhiều thành tựu đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao hưởng và thính phòng.
 
Bố cục của hình thức sonate:    
Hình thức sonate cổ điển gồm có ba phần chính: trình bày (exposition), phát triển (development), và tái hiện (recapitulation). Ngoài ra còn có phần mở đầu (introduction) như trong một số sáng tác của Mozart, Haydn, Beethoven, v.v… Đến Beethoven, hình thức sonate có thêm phần coda (ví dụ: chương I, bản sonate số 23 cho piano, giao hưởng số 3, giao hưởng số 5,…)
Sơ đồ tổng quát của hình thức sonate cổ điển :
               A
PHẦN TRÌNH BÀY
- Mở  đầu ( chậm , có thể có hoặc không ).
- Chủ đề một (allegro)
- Đoạn nối.
- Chủ đề hai.
- Kết phần trình bày.
             B
PHẦN PHÁT TRIỂN
- Phát triển từ các nhân tố chủ đề của phần trình bày bằng nhiều thủ pháp như : chuyển điệu, thay đổi âm hình tiết tấu, phức điệu…
- Có thể xuất hiện chủ đề mới. 
          A'
PHẦN TÁI HIỆN
- Chủ đề một.
- Đoạn nối.
- Chủ đề hai.
- Coda (có thể có hoặc không)
(Bảng tóm tắt này được trích lại có hiệu chỉnh từ sách “Hình Thức âm nhạc” của Nguyễn Thị Vinh)
1/ - Phần trình bày: Phần trình bày của hình thức sonate gồm có chủ đề một hay chủ đề chính (principal theme), đoạn nối (transition), chủ đề hai hay chủ đề phụ (subordinate theme), và kết phần trình bày.
+ Chủ đề một: Diễn tả hình tượng âm nhạc thứ nhất. Chủ đề một có nội dung tập trung, cấu trúc rõ ràng, điệu tính (âm thể) ổn định và thường là điệu tính chính.
+ Đoạn nối: Có chức năng dẫn dắt và liên kết giữa chủ đề một và chủ đề hai. Sự phát triển của đoạn nối trải qua ba giai đoạn :
- Giai đoạn đầu: sự phát triển tương đối ổn định và không đột ngột, có sự nhắc lại một bộ phận của chủ đề một.
- Giai đoạn chuyển điệu: bắt đầu thoát khỏi ảnh hưởng của chủ đề một.
- Chuẩn bị cho chủ đề hai: đây là giai đoạn thứ ba của đoạn nối. Trong nhiều trường hợp, ở giai đoạn này chứa đựng âm trì tục (ostinato) trên âm át của điệu tính chủ đề hai. Tuy nhiên cũng có thể chứa đựng chất liệu chủ đề mới.
+ Chủ đề hai: Tương phản với hình tượng của chủ đề một, tạo sự cân bằng trong phần trình bày. Sự tương phản thể hiện ở tiết tấu, giọng (cung, âm thể), nhịp điệu, tốc độ. Chủ đề hai tạo ra yếu tố mới trong sự phát triển của phần trình bày, nhưng cũng đồng thời giữ được mối quan hệ sâu sắc với chủ đề chính. Về cấu trúc, chủ đề hai có thể được viết ở hình thức một đoạn, hai đoạn, hoặc ba đoạn đơn. Một trong những quy luật chính của hình thức sonate cổ điển là sự tương phản giữa hai chủ đề, dẫn đến việc xuất hiện điệu tính mới. Thông thường chủ đề hai kết hoàn toàn (perfect cadence) ở điệu tính mới.
+ Kết trình bày: Thực hiện chức năng khái quát, tóm tắt những đường nét điển hình trong toàn bộ phần trình bày. Kết trình bày cần thiết để gây ấn tượng, tạo sự cân bằng (Ví dụ: Sonate số 10 cho piano của Beethoven). Kết trình bày cũng có thể được xây dựng trên chất liệu chủ đề mới (ví dụ : Chương I – Sonate số 23 và số 31 của Beethoven).
2/- Phần phát triển: Đây là trung tâm mang nhiều kịch tính của hình thức sonate. Ở đây, âm nhạc được phát triển bằng nhiều thủ pháp như: chuyển điệu, thay đổi tiết tấu, v.v… Phổ biến nhất là thủ pháp “xé lẻ chất liệu chủ đề“ (fragmentation), tạo nhiều khả năng phát triển âm nhạc. Trong phần phát triển còn gặp cả hiện tượng thống nhất những yếu tố khác nhau của chất liệu chủ đề, nhắc lại mô phỏng các phần của chất liệu chủ đề hoặc biến tấu một phần nào đó trong các điệu tính khác nhau. Điển hình nhất của phần phát triển là sự phát triển liên tục, tránh sự ổn định về điệu tính cũng như về cấu trúc.
 
Về hòa âm, quá trình chuyển điệu tích cực, sự chuyển điệu đến các điệu tính xa, sự xung đột điệu tính là phương pháp được dùng phổ biến trong phần phát triển của hình thức sonate. Ngoài ra, ở đây còn có thể xuất hiện chất liệu chủ đề mới được gọi là đoạn chen (épisode) (ví dụ : Chương I – Sonate số 5 cho piano của Beethoven). Trong các bản sonate thời baroque, phần phát triển của hình thức sonate không được các tác giả chú trọng nhiều, có khi nó xuất hiện rất nhanh và chỉ làm nhiệm vụ trung gian giữa phần trình bày và tái hiện. Đến Beethoven, phần phát triển được chú trọng và tăng cường hiệu quả, làm cho phần này trở thành một trong những đường nét điển hình nhất của hình thức sonate.
3/- Phần tái hiện: Nguyên tắc chính của phần tái hiện trong hình thức sonate là giảm bớt sự phát triển cũng như xung đột bằng cách nhắc lại hình tượng chính của phần trình bày ở điệu tính chính. Phần tái hiện thường có thứ tự chất liệu chủ đề như ở phần trình bày: chủ đề một - đoạn nối - chủ đề hai - kết phần trình bày. Yếu tố mới của phần tái hiện sonate là tái hiện lại chủ đề hai ở điệu tính chính. Trong phần tái hiện còn có thể xuất hiện những thay đổi về cấu trúc chất liệu chủ đề, làm phong phú thêm cho phần tái hiện. Về mặt hòa âm, phần tái hiện thường có khuynh hướng ngả về bậc hạ át (IV), hỗ trợ cho việc củng cố điệu tính chính.
4/- Phần coda: Do Beethoven sáng tạo ra. Nó bắt nguồn từ sự tổng hợp toàn bộ quá trình phát triển. Phần coda phản ánh những chi tiết của chất liệu chủ đề hoặc những yếu tố quan trọng và nổi bật nhất của phần phát triển.
Thể loại liên khúc sonate cổ điển:
Danh từ sonate xuất hiện ở Ý vào đầu thế kỷ 17, và chỉ có nghĩa đơn giản là một khúc khí nhạc nhỏ. Tuy cũng gồm nhiều chương với nhịp độ khác nhau, nhưng sonate ở thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 cũng chỉ có tính chất gần với tổ khúc (suite) nhạc múa, và được gọi là sonate tiền cổ điển (sonate thời baroque). Domenico Scarlatti (Nhạc sĩ Ý, 1685 – 1757) đã có những đóng góp đáng kể trong việc hoàn thiện hình thức sonate. Ông viết tất cả 555 sonate. Trong đó ông bắt đầu sử dụng các kiểu chủ đề tương phản, làm cơ sở cho sự phát triển hình thức sonate sau này. Cho đến Philipp Emanuel Bach (1714 – 1788), con trai của J. S. Bach, hình thức sonate có thêm nhiều tiến bộ rõ rệt, thể hiện ở sự kết hợp tinh tế giữa chất trữ tình du dương và chất suy tư, kịch tính của ngôn ngữ âm nhạc. Những nhà soạn nhạc vĩ đại của trường phái cổ điển Vienne (Haydn, Mozart) cũng đã có những đóng góp quý báu cho thể loại này. Nhưng công lao to lớn nhất phải dành cho nhà soạn nhạc bậc thầy Beethoven, người đã hoàn chỉnh thể loại sonate một cách tuyệt vời, đưa hình thức này lên đỉnh cao nghệ thuật, thể hiện được một cách tài tình những tư tưởng lớn của thời đại và những diễn biến sâu sắc nhất của tâm hồn con người.
Liên khúc sonate cổ điển là một tác phẩm gồm nhiều chương liên kết lại với nhau, trong đó mỗi chương mang tính độc lập tương đối. Ngoài ra, yếu tố cần thiết và quan trọng của thể loại liên khúc sonate cổ điển là: trong số các chương trong tác phẩm, nhất thiết phải có một chương (thường là chương I) được viết dưới hình thức sonate. Về bố cục, thể loại liên khúc sonate cổ điển thường gồm có ba hoặc bốn chương với tốc độ khác nhau:
a. Chương I: Thường được viết ở hình thức sonate với nhịp độ nhanh, sôi nổi (nên thường được gọi là sonate allegro). Do biểu tượng và ý đồ nghệ thuật của hình thức sonate nên chương một nhằm giới thiệu tập trung nội dung của tác phẩm. Hai chủ đề phản ánh các mặt tương phản của cuộc sống, tư tưởng và tâm hồn con người. Do đó, có thể nói chương I đã thể hiện phần nào tư tưởng và quan điểm của tác giả.
b. Chương II: Thường được viết ở nhịp độ chậm như: Andante, Adagio hay Largo. Chương II thường có giai điệu trữ tình như một ca khúc. Đôi khi, nó cũng mang tính chất suy tư hoặc bi thương (như trong Sonate số 12 của Beethoven, chương chậm là một hành khúc tang lễ – marche funèbre).
c. Chương III: Các nhà soạn nhạc ở thế kỷ 18 (như Haydn, Mozart) thường chỉ viết sonate ba chương, riêng Beethoven đã sáng tạo ra sonate bốn chương. Trong thể loại sonate bốn chương này, Beethoven đã đặt giữa chương hai và chương cuối một chương có nhịp điệu Scherzo. Tính chất nhạc ở đây khi thì vui nhộn, khi thì hóm hỉnh, châm biếm, nó khác điệu Menuet ở chỗ không bị gò bó vào tiết tấu vũ khúc, mà có phong cách tự do và giàu sức diễn tả hơn .
d. Chương kết: Thường có nhịp độ rất nhanh (vivace, presto). Nó có nhiệm vụ tổng kết các chương trên và nêu ra kết luận chung cho toàn bộ tác phẩm. Chương kết có thể được xây dựng trên cơ sở một điệu múa dân gian, khúc biến tấu (variation) của một chủ đề mang tính ca khúc, hoặc được viết theo hình thức Rondo. Từ thế kỷ 18 trở đi, do nhu cầu diễn đạt nội dung ngày càng sâu sắc và phong phú, nên chương kết cũng có thể được viết ở hình thức sonate. Trong trường hợp này, chương kết có vị trí quan trọng trong việc tổng kết vấn đề đã nêu ra trong tác phẩm, khẳng định một kết luận bằng những hình tượng âm nhạc tràn đầy kịch tính và sức diễn tả (ví dụ: chương kết trong bản sonate “Ánh trăng“ của Beethoven).
 
Như vậy, chúng ta cần phân biệt đâu là hình thức (musical form) đâu là thể loại (musical style) khi nói về sonate. Có thể tóm tắt những điều phân tích trên đây bằng kết luận: Khi nói, “Bản sonate số 10”, đó là một thể loại âm nhạc như nhiều thể loại khác. Trong bản sonate đó, có ít nhất là một chương được viết ở hình thức sonate allegro, gọi tắt là sonate. Hình thức sonate allegro này không chỉ có trong thể loại sonate mà còn có trong nhiều thể loại khác như concerto, symphony, v.v…
Nguyễn Bách
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX