Thường thức âm nhạc
Sơ lược một số vấn đề về Folklore
[23:58 03/11/2003 (GMT+7)]
Sơ lược một số vấn đề về Folklore
					
					
					
[+] Click vào để xem hình lớn
Sơ lược một số vấn đề về Folklore

Folklore là một ngành khoa học bắt nguồn từ các nước phương Tây, được manh nha từ cuối thế kỷ 18 và hình thành vào đầu thế kỷ 19.

Vào cuối thế kỷ 18, nhà văn - nhà triết học người Đức  Herder (1744-1803) đã dùng những thuật ngữ như: Volkslied (dân ca), volksseele (tâm hồn dân gian) và volksglaube (tín ngưỡng dân gian)... Đến năm 1846, thuật ngữ tiếng Anh "folklore" được Ambrose Merton (tức William Thoms) nêu ra trong tạp chí The Atheneum, London. Và tới cuối nửa thế kỷ 19, các hội nghiên cứu folklore lần lượt ra đời ở châu Âu và châu Mỹ.

"Folklore" là sự kết hợp hai từ Saxon - một bộ tộc của cư dân Anh thời Trung cổ - là "folk" và "lore". "Folk" nghĩa là "dân chúng, đám đông" và "lore" nghĩa là "tri thức, trí tuệ, cách nhận thức". Như vậy "folklore" có nghĩa là kho tri thức, trí tuệ, cách nhận thức của dân chúng, nhưng về sau nó được mở rộng để chỉ toàn bộ các lĩnh vực sáng tạo văn hóa của dân chúng.

Folk culture và folklore

Thuật ngữ "folklore" thường được dịch là "văn hóa dân gian", ngoài ra còn có thuật ngữ "folk culture" nó cũng được dịch là "văn hóa dân gian". Tuy nhiên, hai thuật ngữ "folklore" và "folk culture" có những khác biệt đáng kể.

"Folk culture" là văn hóa dân gian với nghĩa rộng và "folklore" là văn hóa dân gian với nghĩa hẹp.

Folk culture bao gồm toàn bộ văn hoá vật chất và tinh thần của dân chúng liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống như: phương pháp, công cụ, qui trình các ngành sản xuất của dân chúng; những sinh hoạt liên quan đến đời sống vật chất như: cách thức ăn uống, may mặc, nhà ở... ;những phong tục tập quán, tổ chức xã hội (gia đình, gia tộc, thôn, xã...); những sinh hoạt tinh thần như đạo đức, tín ngưỡng, vui chơi, hội hè, nghệ thuật...

Với phạm vi rộng như vậy, văn hóa dân gian (folk culture) là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành đều tiếp cận với văn hóa dân gian theo mục đích nghiên cứu của mình.

Folklore là văn hóa dân gian hiểu theo nghĩa hẹp, nó là sự thể hiện folk culture trên một bình diện khác - bình diện thẩm mỹ.

Có thể nói rằng văn hóa là tiến trình mà trong đó con người cải tạo tư nhiên để bắt tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình và cũng là tiến trình con người tự cải tạo để vươn đến cái đẹp. Ý thức vươn đến cái đẹp được hình thành từ những sáng tạo của hoạt động thực tiễn. Người xưa, khi chế tác một công cụ như chiếc cung nỏ dùng trong săn bắn, mục đích ban đầu là tạo ra một phương tiện để có để bắn những mũi tên có độ chính xác cao, dễ trúng đích, nhưng sau đó họ còn gia công để tạo một chiếc cung dễ cầm, dễ nhìn với những đường nét thanh tú hơn, đẽo gọt trang trí để chiếc cung "bắt mắt" hơn... Việc thể hiện tính thẩm mỹ từ những sinh hoạt thực tiễn hay nói cách khác, những văn hóa vật chất được thể hiện ở bình diện thẩm mỹ đó chính là phạm trù của văn hóa dân gian theo nghĩa hẹp (folklore).

Văn hóa dân gian tồn tại và phát triển từ lâu đời. Thuở mà con người chưa có chữ viết, văn hóa được truyền bá chủ yếu bằng phương pháp truyền miệng, bằng các động tác làm mẫu để người khác làm theo... Vì vậy, thuật ngữ folklore (văn hóa dân gian) thường bao gồm hai giới hạn: giới hạn có tính chất văn hoá học, đó là không nghiên cứu toàn bộ nền văn hóa của một dân tộc mà chỉ nghiên cứu những truyền thống văn hóa cổ xưa được truyền miệng (không lưu lại bằng chữ viết). Giới hạn có tính chất xã hội học, đó là không nghiên cứu bộ phận văn hóa ấy trong phạm vi toàn xã hội mà chỉ nghiên cứu trong phạm vi dân chúng, các tầng lớp bình dân.

Đối tượng nghiên cứu của folklore, folklore Việt Nam

Những nhà nhiên cứu folklore có những sự xếp loại đối tượng nghiên cứu khác nhau, song tựu trung vẫn đều đề cập đến những vấn đề chính như:
- Đời sống vật chất: món ăn dân tộc, quần áo, nhà ở, giao thông, các dạng khác nhau của lao động sản xuất.
- Đời sống trí tuệ: ngôn ngữ dân gian, tri thức dân gian, triết lý dân gian, nghi lễ dân gian, văn học nghệ thuật dân gian (trang trí vật dụng gia đình, nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, câu đố, truyện cổ tích, ngụ ngôn, hò, vè, ca dao)…
- Đời sống xã hội: quan hệ gia đình, họ tộc, làng xã...

Ở Việt Nam, có các tác gia nghiên cứu về folklore như: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Hà Văn Cầu, Nguyễn Huy Hồng, Vũ Ngọc Khánh… Folklore Việt Nam có thể hiểu trong những phạm trù như:

- Folklore ngôn từ: Còn gọi là ngữ văn dân gian, gồm hai phạm trù: văn học và ngôn ngữ. Về văn học có các sáng tác dân gian văn vần như: trường ca, truyện thơ, vè, ca dao, đồng dao… Văn xuôi có thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười… Về ngôn ngữ có tục ngữ, phương ngôn, thành ngữ, khẩu ngữ, tiếng lóng…
- Folklore tạo hình: Còn gọi là nghệ thuật tạo hình dân gian gồm có tranh dân gian, điêu khắc dân gian, kiến trúc, thủ công mỹ nghệ dân gian…
- Folklore biểu diễn: Còn gọi là nghệ thuật biểu diễn dân gian như: âm nhạc dân gian (hò, vè, các lối hát dân gian…), sân khấu dân gian, tuồng, chèo…
- Những phạm trù khác: lễ hội dân gian, các trò chơi, món ăn, cây cảnh, truyền thống làng nghề…

  • Hữu Trịnh

Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX