Thường thức âm nhạc
Một số thuật ngữ trong nghệ thuật ca trù
[04:20 17/10/2003 (GMT+7)]
Một số thuật ngữ trong nghệ thuật ca trù
					
					
					
[+] Click vào để xem hình lớn
Một số thuật ngữ trong nghệ thuật ca trù

Nghệ thuật ca trù phát triển trong một thời gian dài, với nhiều bối cảnh diễn xướng và nhiều hình thức thể hiện. Một số thuật ngữ trong ca trù mang tính chất như một điển cố. Muốn hiểu rõ ý nghĩa của nó, chúng ta cần phải tìm hiểu cội nguồn sản sinh ra nó.

Ả đào (người đi hát)
Sách Công dư tiệp ký(trang 78) viết: "Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết, dân nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát được gọi là ả đào".
Ca trù (hát ả đào)
Hát cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ. Hát thẻ dùng để chỉ một hình thức ban thưởng cho những ả đào hát hay. Đoạn nào ả đào hát hay thì các khách nghe hát (gọi là quan viên) thưởng một thẻ. Mỗi thẻ qui định tương ứng với một số tiền, đến hết buổi hát, ả đào tổng cộng được bao nhiêu thẻ thì nhân lên mà nhận tiền thưởng. "Hát" tiếng Hán là "ca", thẻ là "trù", hát thẻ = ca trù. Hát ả đào được gọi là ca trù từ đó.
Quan viên (người nghe hát)
Ngày xưa, con các quan phủ, huyện được gọi quan viên tử. Quan viên tử có đặc ân là được miễn làm tạp dịch trong làng, sống cuộc sống phong lưu, công tử. Nhân dân xem người nghe ca trù là hạng người phong lưu, ví như quan viên tử, nên gọi người nghe ca trù là quan viên.
Cô đầu (ả đào)
Khi các ả đào (học trò) đi hát ở các đình đám kiếm được tiền, họ thường trích ra một khoản nhỏ cho các người thầy đã có công dạy dỗ mình, số tiền đó gọi là tiền "đầu". Người ta dùng chữ "cô" thay cho "ả" ("ả", tiếng địa phương ở Nghệ Tĩnh cũng có nghĩa là "chị, cô") và chữ "đầu" thay cho "đào", vì vậy "ả đào" (người hát) gọi là cô đầu.
Cầm chầu (người đánh trống)
Lúc chúa Trịnh cầm quyền, trong phủ lúc có những yến tiệc thường có hát ả đào giúp vui. Chúa cử một viên quan tinh thông âm nhạc làm chức cổ lệnh. Viên cổ lệnh tay cầm dùi trống đứng ở sân chầu để ra hiệu lệnh điều khiển múa hát. Việc múa hát hay dở, viên cổ lệnh có quyền thưởng, phạt. Vì đứng ở sân chầu đánh trống nên được gọi là đánh chầu hay cầm cầm chầu. Người đánh trống trong ca trù được gọi là cầm chầu từ đó.
Giáo phường (nơi ở của ả đào)
Ngày xưa ả đào và kép được ở tập trung một nơi để tiện việc luyện tập ca hát. Giáo phường là phường, xóm dạy những người đi hát.
Hát nhà trò (vừa hát vừa làm điệu bộ)
Khi hát ở cửa đền, ả đào vừa hát vừa làm điệu bộ để diễn tả người say rượu, người đi săn... người ta gọi là làm trò. Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là
hát nhà trò.
Cô đầu nòi
Ngày xưa, cô đầu và kép mỗi vùng có một 'họ" riêng như: Tam, Ngân, Thông, Thiên... Tên của cô đầu là họ của giáo phường cộng với tên của mình,. Ví dụ tên Thuận, họ Tam, được gọi là Tam Thuận. Họ này được xem như là họ truyền thống trong nghề. Những cô đầu thuộc những họ truyền thống gọi là cô đầu nòi.
Cô đầu rượu
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các quan viên đến nhà hát ít người thưởng thức ca nhạc, văn chương mà chủ yếu họp nhau để uống rượu, hành lạc. Cô đầu đa số được tuyển từ các vùng quê, không biết hát mà chỉ tập cách tiếp khách cho khéo, tập uống rượu thi với các quan viên. Quan viên tới thì các cô phải tiếp rượu cho say, quan viên say đi ngủ thì các cô phải trải chiếu, buông màn. Vì vậy các cô đầu này gọi là cô đầu rượu.
  • Hữu Trịnh sưu tầm
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX