Trước đây, nếu có ai nói rằng âm nhạc mà tôi trình bày là âm nhạc thực nghiệm thì tôi sẽ phản đối ngay. Đối với tôi lúc ấy, các nhà soạn nhạc biết điều họ làm, và những kinh nghiệm thu được trước khi kết thúc công việc, cũng giống như bản vẽ phác được tạo ra trước khi trở thành bức tranh, và có diễn tập rồi mới có biểu diễn. Nhưng, sâu xa hơn, tôi nhận ra rằng có một sự khác biệt chủ yếu giữa việc tạo ra một bản nhạc và cảm thụ nó. Tác giả biết công việc của anh ta cũng giống như người tiều phu biết lối mòn do anh ta tạo ra, trong khi khán thính giả phải "đương đầu" với cùng bản nhạc, cũng giống như một người đi trong rừng phải đối mặt với loại cây mà anh ta chưa từng thấy bao giờ.
Mặt khác, thời gian đã thay đổi, âm nhạc cũng thay đổi, và tôi không còn phản đối từ “thực nghiệm” (experimental) nữa. Trên thực tế, tôi sử dụng nó để miêu tả tất cả những thứ âm nhạc khiến tôi đặc biệt quan tâm và say mê, cho dù do người khác hoặc do chính tôi viết. Đó là do tôi đã trở thành người nghe và âm nhạc đã trở thành cái để nghe. Dĩ nhiên, nhiều người đã thôi dùng từ “thực nghiệm” để nói về loại nhạc mới này. Thay vào đó, hoặc họ có một thái độ nửa vời hơn và dùng từ “còn tranh cãi”, hoặc tiến một bước xa hơn là đặt lại vấn đề đối với loại âm nhạc này: “Thể loại này có thật sự là âm nhạc không?”
Đối với loại âm nhạc mới này, không có gì ngoài âm thanh: những âm thanh được ký hiệu và những âm thanh không được ký hiệu. Những âm thanh không ký hiệu xuất hiện trong bản nhạc như những dấu lặng, mở cánh cửa âm nhạc cho những âm thanh diễn ra quanh ta. Sự mở cửa này cũng tồn tại trong lĩnh vực điêu khắc và kiến trúc. Ngôi nhà kính của Mies van der Rohe phản chiếu môi trường xung quanh, bày ra trước mắt ta hình ảnh của mây, cây cối, thảo mộc tùy từng góc độ khác nhau. Và khi nhìn công trình xây dựng của nhà điêu khắc Richard Lippold, chắc chắn người ta sẽ thấy những thứ khác và cả con người nữa, nếu như người ta cùng có mặt ở đó, nhìn xuyên qua các thanh kim loại.
Không hề có không gian rỗng hoặc thời gian rỗng. Luôn có cái gì đó để thấy, để nghe. Thật vậy, bạn hãy cố tạo ra một sự yên lặng mà xem, không được đâu. Vì một số mục đích kỹ thuật, chúng ta mong muốn có một nơi chốn thật yên tĩnh càng tốt. Và một căn phòng như thế, với 6 bức tường được làm bằng kim loại đặc biệt, gọi là căn phòng không có tiếng vang. Tôi đã vào một căn phòng như thế ở Đại học Harvard cách đây nhiều năm và nghe 2 âm thanh, một trầm một bổng. Khi tôi miêu tả cho kỹ sư phụ trách xây dựng tòa nhà, anh ta cho tôi biết rằng âm bổng là âm thanh của hệ thần kinh đang hoạt động, âm trầm là âm thanh của máu đang lưu thông. Cho đến khi tôi chết sẽ vẫn còn âm thanh. Và nó sẽ còn tiếp tục theo sau cái chết của tôi. Ta không cần lo sợ về tương lai của âm nhạc.
Nhưng trạng thái không lo sợ ấy chỉ diễn ra khi ta nhận ra rằng, âm thanh xảy ra dù vô tình hay cố ý, thái độ của ta là hướng về những âm thanh mà ta không cố ý. Sự chuyển hướng này thuộc về tâm lý. Sự chuyển hướng tâm lý như vậy dẫn đến thế giới tự nhiên, nơi mà từ từ hay đột ngột, ta thấy con người và thiên nhiên không tách rời nhau và đều ở trong cùng thế giới này. Trong ngôn ngữ âm nhạc, bất kỳ loại âm thanh nào cũng có thể xảy ra trong sự phối hợp và sự liên tục.
Và thật là một sự trùng hợp đáng chú ý khi bây giờ, các phương tiện kỹ thuật để tạo ra một loại âm nhạc không giới hạn như thế đã hiện hữu. Vào cuối Thế chiến II, người ta khám phá ra rằng đã có những tiến bộ trong việc thu âm bằng băng từ, ghi nhận âm thanh ở độ trung thực cao. Đầu tiên đó là công trình của Pierre Schaeffer ở Pháp, sau đó, ở Đức, Nhật, và có lẽ ở nhiều nơi khác nữa, băng từ được sử dụng không chỉ đơn giản để thu những buổi trình diễn âm nhạc mà còn để tạo ra một thứ âm nhạc mới. Với tối thiểu hai máy thu băng từ và một máy ghi đĩa, người ta có thể thực hiện các bước sau: 1) thu đơn bất kỳ âm thanh nào được tạo ra; 2) thu lại âm thanh đã được biến đổi qua bộ lọc và board mạch; 3) mix lại bằng điện tử (dùng máy thứ ba để phối hợp các âm thanh của hai máy kia) có thể tạo ra một số lượng bất kỳ những âm thanh đã được phối hợp; 4) ghép nối các âm thanh sau khi đã xử lý hoặc các âm thanh nguyên thuỷ lại với nhau.
Kết quả thu được nhờ các phương tiện kể trên tạo nên một không gian âm thanh tổng thể, giới hạn của nó chỉ được xác định bởi thính giác. Vị trí của một âm thanh cụ thể trong không gian là kết quả của 5 yếu tố: tần số hoặc độ cao, độ vang hoặc độ lớn của âm, âm bội hoặc âm sắc, trường độ và hình thái âm thanh (nghĩa là cách âm thanh bắt đầu, ngân nga và kết thúc như thế nào). Sự thay đổi của bất kỳ một trong những yếu tố này đều dẫn tới sự thay đổi của vị trí âm thanh trong không gian âm thanh. Bất kỳ âm thanh nào trong bất kỳ điểm nào của không gian âm thanh cũng có thể di chuyển để trở thành âm thanh ở một vị trí khác. Nhưng những thuận lợi này chỉ có khả năng xảy ra nếu như ta sẵn sàng thay đổi một cách triệt để thói quen cảm thụ âm nhạc. Cũng như là ta có thể cảm thụ những hình ảnh được chuyển tiếp mà không phải chuyển đổi vị trí, giống như khi ta xem truyền hình, ta sẵn sàng ngồi ở nhà thay vì đi đến rạp hát.
Các thói quen âm nhạc bao gồm thang âm, điệu thức, các lý thuyết về đối âm và hòa âm, những quan niệm thông thường về từng âm sắc đơn lẻ hay những âm sắc được tạo nên do sự phối hợp với một số kỹ xảo tạo âm. Trong ngôn ngữ toán học, tất cả những điều này liên quan đến một số bước riêng rẽ. Nó giống như bước đi – trong trường hợp của thang bậc, trên 12 bậc đá. Cách chia bậc này không đặc trưng đối với băng từ, điều này cho ta thấy rằng âm nhạc có thể hoạt động hoặc hiện hữu ở bất kỳ điểm nào hoặc trên bất kỳ đường thẳng hoặc cong nào trong tổng thể không gian âm thanh; rằng chúng ta được trang bị kỹ thuật để biến đổi sự hiểu biết đương thời của chúng ta về tự nhiên thành ra nghệ thuật âm nhạc.
Một lần nữa lại có sự phân nhánh ở đây. Và người ta phải chọn lựa. Nếu anh không muốn từ bỏ những cố gắng kiểm soát âm thanh, anh có thể phức tạp hoá kỹ thuật tạo âm để tiến tới gần với những khả năng và hiểu biết mới (tôi dùng từ “gần với” vì một đầu óc đo lường tính toán không bao giờ có thể cân đo đong đếm thiên nhiên được). Hoặc, cũng như trước đây, người ta có thể từ bỏ ước muốn kiểm soát âm thanh, xoá bỏ âm nhạc khỏi đầu óc, và tìm tòi khám phá những phương tiện để giữ được âm thanh trong trạng thái nguyên thủy của nó thay vì biến nó thành phương tiện diễn đạt tư tưởng hoặc tình cảm con người.
Dự án này có thể khiến nhiều người sợ hãi, nhưng xét cho cùng thì chẳng có gì phải ngại. Cảm thụ âm thanh như là chính nó ngay lập tức khiến đầu óc luận lý trở về với lý thuyết, và những cảm xúc con người không ngừng được khơi dậy bởi những tiếp xúc với thiên nhiên. Lẽ nào một ngọn núi hùng vĩ không gợi lên cho bạn sự kinh ngạc? Những con rái cá dọc bờ suối không cho bạn một cảm xúc vui vẻ? Đêm đen trong rừng không gợi nên nỗi sợ hãi? Lẽ nào mưa rơi và sương giá không gợi lên cho bạn tình yêu thiên nhiên? Cái chết của người thân không mang lại sầu khổ? Và có gì kỳ diệu hơn sự sống trỗi lên từ một mầm cây ? Những câu trả lời thiên nhiên này là của tôi và không nhất thiết phải giống với bất kỳ ai khác. Xúc cảm diễn ra trong lòng của mỗi cá nhân. Và âm thanh, trong trạng thái nguyên thủy của nó, không đòi hỏi người nghe nó phải nghe mà không động lòng. Vấn đề ở đây chính là khả năng cảm thụ.
Âm nhạc mới: Cảm thụ mới. Không phải là một cố gắng hiểu điều được nói ra, bởi vì, khi một điều được nói ra, âm thanh sẽ mang hình hài của ngôn từ. Chỉ cần chú ý vào chính âm thanh.
Những người sáng tác nhạc thực nghiệm tìm kiếm phương thức và phương tiện để bản thân họ thoát ra khỏi những âm thanh mà họ tạo ra. Một số sử dụng những hoạt động ngẫu nhiên, phát xuất từ những nguồn xa xưa như thư tịch cổ Trung Hoa, hoặc hiện đại như toán xác suất mà các nhà vật lý sử dụng. Toàn bộ những khả năng này có thể được phân khu vực và các âm thanh thực sự trong mỗi khu vực có thể được ghi bằng số để cho người biểu diễn hoặc ráp nối chọn lựa. Trong trường hợp ráp nối, nhà soạn nhạc cũng giống như người sáng chế máy ảnh không chụp ảnh mà là một người khác. Cho dù sử dụng băng từ hay viết nhạc cho các nhạc cụ qui ước, trạng thái âm nhạc hiện tại đã thay đổi so với trước khi băng từ can thiệp. Điều này cũng không đáng phải lo ngại, vì một điều mới lạ xuất hiện cũng không làm dịch chuyển sự vật. Mỗi sự vật có chỗ của nó, và không chiếm vị trí của cái khác; và càng có nhiều thứ thì càng thú vị.
Có thể kể ra rất nhiều hiệu ứng của băng từ trong âm nhạc thực nghiệm. Bởi vì độ dài của băng từ cũng tương ứng với độ dài thời gian, nên ký hiệu trong không gian ngày càng được dùng nhiều hơn là ký hiệu của quãng tư, quãng hai, v.v., Do đó, khi một nốt nhạc xuất hiện trên bản nhạc, nó tương ứng với thời gian diễn ra. Một máy đánh nhịp được dùng để hỗ trợ cho buổi trình tấu. Cũng khó mà thực hiện một sự đồng bộ hoá tuyệt hảo ngay lần đầu với nhiều băng từ khác nhau. Những người khác - những người vô tình tiếp nhận âm thanh - nhận ra rằng bảng tổng phổ (đòi hỏi các phần phải được ráp với nhau trong một sự hoà hợp đặc biệt) không phải là cách trình bày chính xác các sự vật. Những sự vật này tạo nên các phân phổ chứ không phải tổng phổ, và các phân phổ có thể được kết hợp với nhau bằng những cách không tính trước. Điều này có nghĩa là mỗi lần trình tấu một bản nhạc là độc nhất vô nhị, tạo hứng thú cho tác giả cũng như cho khán thính giả.
Một lần nữa ta thấy sự tương đồng này trong thiên nhiên, bởi vì dù cùng một cây nhưng chẳng thể tìm lấy hai chiếc lá giống nhau. Tất nhiên, các nghịch âm và tiếng ồn được chấp nhận trong loại nhạc mới này. Các buổi diễn tập cho thấy thể loại âm nhạc thực nghiệm, dù là băng từ hay nhạc cụ, đều nghe rõ hơn nếu như các loa được đặt rời xa ra thay vì tập trung lại gần nhau. Bởi loại âm nhạc này không liên quan đến sự hài hoà như thường được hiểu, nghĩa là sự hài hoà phát sinh từ chất lượng âm thanh của nhiều yếu tố hoà lẫn với nhau. Ở đây nó chỉ nói lên sự cùng có mặt của các yếu tố không giống nhau, và các tâm điểm nơi mà sự hợp nhất xảy ra thì nhiều: tùy vào tai người nghe. Sự nghịch tai này, nói theo ngôn ngữ của H.Bergson, đơn giản chỉ là sự hài hoà mà nhiều người không nghe quen.
Và mục đích của việc viết nhạc là gì? Dĩ nhiên, viết nhạc không phải là xử lý các ý đồ mà là xử lý các âm thanh. Câu trả lời cũng có thể mang dáng dấp của nghịch lý: một sự không mục đích có mục đích hoặc một vở kịch không mục đích. Tuy thế, vở kịch này là sự khẳng định của đời sống-không phải là một cố gắng mang trật tự ra khỏi chốn hỗn mang hay là những đổi mới trong sáng tạo, mà đơn giản chỉ là một cách đánh thức chính cuộc sống mà chúng ta đang sống. Thật tuyệt vời một khi con người thoát ra khỏi những toan tính và ước vọng, để cuộc sống diễn ra trong sự hoà hợp của chính nó.
John Cage (Hoa Tiên chuyển ngữ)