- Nhạc cổ điển
- Nhạc trẻ
- Âm nhạc dân gian
- Bàn tròn âm nhạc
- Lý luận - Phê bình
- Tác giả - Tác phẩm
- Gương mặt ca sĩ QT
- Nhóm nhạc
- Thường thức âm nhạc
- Nói chuyện sáng tác
- Thời trang và nghệ sĩ
- 1001 sự cố
- Chuyện giờ mới kể
- Đời thường nghệ sĩ
- Góc xấu của "Sao"
- Hậu trường ca nhạc
|
Tìm hiểu về nghệ thuật ca trù
[14:12 02/01/2004 (GMT+7)]
Nguồn gốc của ca trù
Từ xưa, các vua chúa Việt Nam đã có những tổ chức lễ nhạc. Lễ nhạc trong cung đình vua chúa thường gồm 2 bộ phận là Nhã nhạc và Yến nhạc. Nhã nhạc dùng trong các buổi tế tự, các buổi đại triều, thường triều, để tăng thêm phần nghiêm trang, trọng đại. Yến nhạc dùng trong các buổi tiếp đãi sứ thần ngoại quốc, các yến tiệc lớn trong cung đình... để nói lên cảnh thái bình, thịnh vượng.
Từ đời nhà Đinh và Tiền Lê trở về trước không thấy sách sử nói đến những sinh hoạt hát múa, nhưng từ đời nhà Lý trở về sau ở một số sách sử, chúng ta đã thấy bóng dáng của những sinh hoạt đó.
Sách Khâm định Việt sử (quyển 2, trang 39) ghi: "Năm Thông Thụy thứ 2 (1035), vua Thái Tông sách lập Thiên cảm Hoàng hậu, phong 13 người làm Hậu phi, kén 18 người ngự nữ hầu hạ và tuyển hơn 100 ca nữ".
Trần Trung Cương (Thượng thư bộ Lễ đời nhà Nguyên – Trung Quốc) khi đi sứ sang Việt Nam (đời nhà Trần), đã ghi lại trong Sách Sứ Giao Châu tập như sau: "Khi dự yến tiệc ở điện Tập hiền, có vài mươi đứa con trai, con gái ngồi ở dưới chiếu mà hát, đàn tỳ bà và đàn tranh cùng hòa với nhau..."
Sách Công dư tiệp ký (Vũ Tuần Phủ, trang 78) viết: "Cuối đời nhà Hồ (1400 – 1407), có người con hát họ Đào quê ở làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên, lập mưu giết được giặc Minh. Khi nàng chết dân nhớ ơn lập đền thờ, gọi thôn nàng là thôn Ả Đào. Từ đấy những người đi hát gọi là ả đào hay đào nương".
Sách Việt Nam ca trù biên khảo (Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, trang 34, 35) viết: "Năm Hồng Đức (1470 – 1497), vua sai các quan văn thần là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh kê cứu âm nhạc nước Tàu, hợp vào âm điệu nước nhà mà đặt ra hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn chuyên tập âm luật, bộ Nhã nhạc chuyên luyện nhân thanh, cùng thuộc quyền quan Thái thường trông coi. Âm nhạc dân gian thì đặt giáo phường cai quản, nhã nhạc và tục nhạc riêng biệt, không lẫn vào nhau.
Âm luật đời Hồng Đức có: Cung Hoàng chung, Cung Nam, Cung Bắc, Bát đoạn cẩm, Đại thực, Dương kiều, Âm kiều, Hà bắc, Hà nam, Thiết nhạc, Đàn lẩy (nẩy), Hát tầng.
So sánh âm luật đời Hồng Đức với lối hát ca trù ngày nay, ta nhận thấy trong 12 lối hát kể trên, chỉ còn 5 lối lưu truyền lại là: Cung bắc, Đại thực (Đại thạch), Hát tầng (Xướng tầng), Thiết nhạc (Thét nhạc) và Hà nam. Riêng lối Hà nam người ta phỏng theo đó mà đặt ra điệu Hát nói".
Theo sự tích "Tổ cô đầu" thì vào thời nhà Lê, có ông Đinh Lễ quê ở làng Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh, thuê thợ lấy gỗ ngô đồng làm ra cây đàn đáy. Ông cùng với vợ là bà Bạch Hoa đặt ra nhiều khúc hát để dạy cho các học trò của mình nên được đời sau tôn là Tổ cô đầu.
Các hình thức hát với thơ trong cung điện vua chúa là diễn tấu của các ban nữ nhạc. Mãi đến thời nhà Hồ, những người hát được gọi là ả đào. Ca trù phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử. Tùy thuộc vào sinh hoạt, vào bối cảnh diễn xướng, ca trù còn có những tên gọi khác như: hát cô đầu, hát cửa đình, hát cửa quyền, hát nhà trò, hát nhà tơ...
Riêng việc xác định địa danh xuất phát của nghệ thuật ca trù, cho đến nay vẫn chưa có những minh chứng cụ thể. Việc xác định đó được ngầm hiểu như sự xác định đền thờ Tổ. Hiện nay có một số địa phương có lập đền thờ Tổ: làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh thờ ông Đinh Lễ; làng Lỗ Khê, huyện Đông Anh, Hà Nội thờ ông Đinh Dự; làng Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây thờ Đinh Triết... Tuy nhiên, truyền thuyết về ông Đinh Lễ ở làng Cổ Đạm là chi tiết và được nhiều người biết đến nhất, hơn thế nữa Cổ Đạm là được xem như là cái nôi của nghệ thuật ca trù. Vì vậy khi nói đến nghệ thuật ca trù thì người ta chú ý đến Cổ Đạm nhiều hơn cả.
Các lối hát ca trù
Theo Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề cho rằng ca trù có tất cả 46 thể và được chia ra làm 3 lối hát chính: hát chơi, hát cửa đình và hát thi.
Hát chơi : là lối hát tổ chức tại nhà quan viên hay nhà ả đào để quan viên thưởng thức. Hát chơi thường hát những bài tả tình, tả cảnh với sự phóng khoáng, phong lưu, tình tứ. Hát chơi gồm có 15 thể : Bắc phản, Mưỡu, Hát nói, Gửi thư, Đọc thơ-thỏng-dồn, Đọc phú, Chừ khi (có nơi gọi là Chử khi), Hát ru, Nhịp ba cung bắc, Tỳ bà, Kể truyện, Hãm, Ngâm vọng, Sẩm cô đầu, Ả phiền (riêng Ả phiền có tới 20 giọng).
Hát cửa đình: là lối hát thờ thần (thần Thành hoàng). Hát cửa đình thường hát về những bài sử, về kinh truyện và sự tích danh nhân. Cách hát rõ ràng, cần nhiều hơi, cao giọng để mọi người cùng nghe rõ. Điệu bộ nghiêm trang không được lẳng lơ như hát chơi. Hát cửa đình gồm có 12 thể: Giáo trống, Giáo hương, Dâng hương, Thét nhạc, Hát giai, Đọc phú, Đọc thơ, Gửi thư, Đại thạch, Bỏ bộ, Múa bài bông (múa), Tấu nhạc và múa tứ linh (múa).
Hát thi: được tổ chức ở cửa đình, là lối hát để khảo sát tài năng của đào kép. Vào mùa xuân, các làng sung túc, giàu có thường mở hội và mở cuộc thi ở cửa đình để chọn đào hay, kép giỏi. Các cô đầu có thể đỗ hoặc không đỗ trong các cuộc thi ở cửa đình, nhưng phải qua cuộc thi này họ mới được công nhận là người biết hát ca trù, mới trở thành một cô đầu chính thức.
Hát thi thường qua 4 giai đoạn là: Vãn, Chầu thi, Chầu cầm, Thi lại.
Vãn là hát sơ khởi, đào hát vài câu Gửi thư hoặc Thổng Thiên thai; kép hát vài câu Thơ để ban giám khảo chọn vào Chầu thi. Chầu thi gồm 28 thể, Chầu cầm gồm 17 thể, trong đó có thể Làm trò vui (làm trò). Trong Chầu thi và Chầu cầm có những thể dành riêng cho đào, thể dành riêng cho kép, thể dành cho đào và kép cùng hát. Thi lại để ban giám khảo cân nhắc chính xác để định giải. Thông thường hát thi gồm 10 giải, có nơi lấy thêm 4-5 giải khuyến khích. Người đoạt giải nhất gọi là Thủ khoa và giải nhì gọi là Á nguyên. Ca trù - nghệ thuật dân gian hay chuyên nghiệp?
Lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù qua các thời kỳ rất phức tạp, thuở sơ khai nó là ban nữ nhạc trong cung vua với tính chất là một loại hình nghệ thuật "cung đình". Với lối "hát chơi" phục vụ cho nhu cầu thưởng thức của một số quan lại, nho sĩ thì nó là một hình thức nhạc thính phòng. Với lối hát cửa đình - hát trước hương án của các vị thành hoàng (trong nhà) và hát cả ngoài sân với đông đảo nhân dân tham dự - nó vừa mang tính chất thính phòng vừa mang tính chất đại chúng. Tuy các lối hát với những bối cảnh diễn xướng khác nhau, nhưng tất cả đều có một điểm chung là các sinh hoạt này luôn luôn có 2 đối tượng: khán giả và diễn viên. Trong đó, diễn viên là những người chuyên nghề ca hát, khác với các loại hình âm nhạc dân gian khác như hò, lý... được diễn xướng trong lúc đang làm việc, không có đối tượng khán giả thưởng thức, chỉ hát cho nhau nghe, có khi tự hát cho mình nghe (như nhạc tài tử Nam bộ). Điều đó tỏ rõ ca trù là một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp mang tính bác học.
Thế kỷ 19 có thể nói là giai đoạn phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật ca trù. Từ nhu cầu muốn thưởng thức những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng hoặc thơ của chính mình, các quan lại trí thức, các nho sĩ đã mời ả đào về tư dinh của mình để hát. Chỉ cần 3 người: một ả đào (vừa hát vừa gõ phách), một kép (người đánh đàn đáy) và chính chủ nhân vừa làm khán giả, vừa là người cầm chầu (đánh trống). Người cầm chầu vừa điểm trống theo câu hát vừa là người khen, chê, để thưởng, phạt thông qua hiệu lệnh trống. Chỉ cần 3 người cũng đã tạo nên một buổi trình diễn, thưởng thức và thẩm định nghệ thuật trọn vẹn.
Ca trù là một nghệ thuật pha trộn giữa âm nhạc và thơ ca, mỗi buổi hát ca trù là một cuộc trình diễn nghệ thuật mà trong đó cả diễn viên và khán giả đều là nghệ sĩ. Cả hai đều tích cực tham gia vào cuộc diễn, giữa người diễn và người nghe tìm được một sự đồng điệu. Ca trù một thời đã trở thành thú chơi tao nhã của các bậc phong lưu, nho sĩ và là loại hình âm nhạc thính phòng độc đáo của dân tộc Việt Nam.
Khi ca trù thoát ra khỏi những cung vua phủ chúa, trở lại cuộc sống nhân dân với những tổ chức giáo phường, tuy vẫn mang tính chuyên nghiệp nhưng nó được nuôi dưỡng và giữ gìn trong dân gian thông qua những buổi tế lễ ở cửa đình, những hội hè, lễ tiết ở nông thôn. Và cũng chính sự phổ biến rộng rãi ra ngoài nhân dân mà ca trù được các danh sĩ rành âm luật và các tay giáo phường tài hoa bổ sung nhiều lối hát, làm cho ca trù ngày càng phong phú.
Trong đó, hát nói là một lối hát quan trọng của ca trù và lối hát đó đã sản sinh ra một thể thơ mới, đặc biệt của văn học Việt Nam. Nhiều bài hát nói nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà... là những tác phẩm có giá trị đóng góp cho nghệ thuật ca trù và cho cả văn học Việt Nam thế kỷ 19, là mầm mống cho thể loại thơ mới, thơ tự do sau này.
|
Tài và tật
Bàn về Âm nhạc tuyệt đối (bài 2)
Bàn về Âm nhạc tuyệt đối *
Soul, linh hồn bất diệt của người da đen
Phần 2: Phương pháp Dalcroze
Nghệ thuật thanh nhạc trong tuồng
Nghệ thuật thanh nhạc trong tuồng (2)
Chủ nghĩa lãng mạn toàn cầu và bản sắc dân tộc
“V-hiphop” và chuyện nhập khẩu âm nhạc
Thành lập CLB Lý luận - Phê bình âm nhạc
Thế nào là một bài dân ca?