Cũng có người ôn hòa hơn, cố gắng đi tìm mặt tích cực của “nhạc trẻ”. Bên cạnh đó, những nhà phê bình, nhạc sĩ thuộc thế hệ trẻ lại lên tiếng bênh vực cho “cái oan của nhạc trẻ”. Ở đây, chúng ta thử cùng nhau phân tích một số mặt tích cực và tiêu cực của “nhạc trẻ” về khía cạnh nghệ thuật.
Một số thể loại nhạc và ca khúc phổ biến trong giới trẻ hiện nay:
Trong số khán thính giả thuộc lớp trẻ hiện nay có nhiều loại hình âm nhạc khác nhau được phổ biến. Chúng ta có thể phân ra hai nhóm: ca khúc và các thể loại âm nhạc khác.
Ca khúc ngoại quốc:
Nhạc pop và pop-rock đang rất được giới trẻ ưa chuộng. Do tiết tấu của nhạc pop phù hợp với ngôn ngữ, tâm tình và sự biểu hiện tình cảm của người Việt Nam hơn nhạc rock nên người trẻ thuộc tầng lớp nào cũng yêu thích. Dù thuộc lớp bình dân hay giới trí thức, dù là “fan” của âm nhạc bác học hay mê say nhạc “sến”, một thính giả trẻ chắc chắn sẽ rung động khi nghe Céline Dion hát “My heart will go on”. Họ không cần hiểu nghĩa của lời. Âm nhạc đã có tác dụng mạnh mẽ và có hiệu quả. Tương tự như thế, những ca khúc pop của Mariah Carey, Madonna, Ricky Martin v.v… đã là “gu” của giới trẻ thành phố.
Từ khi ra đời vào những năm 1950 đến nay, nhạc rock đã có nhiều dạng thức khác nhau như: rock and roll, jazz – rock, Latin rock, punk rock, funk rock, classic rock, hard rock,….Nhưng tại Việt Nam, chỉ có 3 dạng thức được ưa chuộng, đó là: rock and roll, classic rock và Latin rock. Giới trẻ vẫn thờ ơ với các thể loại rock “nặng” như hard rock, punk rock,…. do không mang tâm trạng như giới trẻ phương Tây.
Thể loại pop-rock là một dạng thức kết hợp giữa hai thể loại nói trên, và được giới trẻ ưa chuộng hơn. Số lượng đông đảo những bạn trẻ tham dự ngày kỷ niệm cái chết do bị ám sát của nhạc sĩ John Lennon (cựu thành viên của The Beatles) là một bằng chứng cụ thể cho thị hiếu này. Đặc biệt, giới trẻ thành phố vẫn yêu thích những ban pop-rock đã từng vang bóng một thời như The Beatles, Bee Gees,…
Nhạc teen pop (nhạc pop dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên, teen - age = lứa tuổi từ 13 đến 19 tuổi). Đây là loại ca khúc được biểu diễn bởi các nhóm ca sĩ trẻ (khác với “ban nhạc trẻ” vì họ không chơi nhạc cụ nào) ở lứa tuổi vị thành niên hoặc thành công từ lúc còn trong lứa tuổi đó.
Các nhóm teen pop này thường gồm 5 đến 7 thành viên, được đào tạo theo kiểu công nghiệp bởi những ông bầu thương mại đứng phía sau. Họ đưa ra một công thức tạo thành nhóm, chẳng hạn trường hợp ông bầu nổi tiếng Lou Pearlman với công thức tạo thành nhóm Backstreet Boys như sau: “5 anh em cơ bản” = hoang dã + bẽn lẽn + ngọt ngào + lãng mạn + dân dã (wild + shy + sweet + hearthrob + ethnic).
Các ca sĩ teen pop chuyên hát những ca khúc có giai điệu mùi mẫn, nét nhạc hao hao giống nhau, có khi giống đến gần cả một đoạn phiên khúc, phối hợp nhiều với các động tác múa. Ở các nhóm này, ngoại hình được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu chứ không phải âm nhạc, vì hầu hết các ca sĩ này không biết sáng tác và thậm chí không chơi được nhạc cụ. Những nhóm teen pop đầu tiên xuất hiện là: Backstreet Boys, Take that, East 17, rồi đến N' Sync, v.v… Đó là những thanh niên đẹp trai, mang chất nữ tính, được gọi là các “boysbands” (ban nhạc con trai). Chưa bao giờ trong làng nhạc pop lại có nhiều bản sao chép giống nhau như vậy. Gần đây lại xuất hiện những nhóm girlsbands (ban nhạc con gái) như Spice Girls, All Saints.
Thuộc dòng nhạc teen pop này còn có một số nữ ca sĩ hoạt động độc lập, rất được lứa tuổi học trò thành phố ưa chuộng như Britney Spears, Christina Aguilera,… Họ chính thật là những “người mẫu thời trang” trên sân khấu ca nhạc hơn là ca sĩ thực thụ.
Về mặt công nghiệp biểu diễn, các boysbands và girlsbands đã đạt những thành công đáng nể, doanh thu rất cao do sự hợp tác chặt chẽ giữa các ông bầu, hãng băng đĩa và công ty quảng cáo, truyền thanh, truyền hình. Vì vậy, cũng dễ hiểu khi teen pop trở thành “mốt” thời thượng của giới trẻ, đặc biệt của lứa tuổi học sinh cấp II, III phổ thông. Nhưng, teen pop chỉ là một hiện tượng, một phong trào mang tính xu hướng nhất thời, càng không phải là một thể loại âm nhạc đúng nghĩa và không được giới chuyên môn đánh giá cao.
Chẳng có gì lạ khi Viện Nghệ thuật và Khoa học Ghi âm Quốc gia Mỹ (NARAS – National Academy of Recording Arts & Sciences) không quan tâm đến, thậm chí còn loại bỏ hình thức âm nhạc thương mại này ra khỏi danh sách đề cử giải Grammy trong nhiều năm liên tiếp. Các ngôi sao teen pop thành công về mặt thương mại nhưng không thành công về mặt nghệ thuật.
Bên cạnh dòng nhạc pop, pop-rock, teen pop trên đây, còn có một vài thể loại khác cũng được khá đông đảo thính giả trẻ ưa thích, đó là: rap, hip-hop và country music. Trong đó, rap, hip-hop được thịnh hành chủ yếu trong giới “choai choai”.
Nếu rock đã có được 55 tuổi đời, thì hip-hop đã tồn tại và phát triển từ 21 năm nay, kể từ năm 1979 khi nhóm Sugarhill Gang “nói như hát” và “hát như nói” một ca khúc có câu gần như vô nghĩa sau đây: “With a hip, hop, the hipit, the hipidipit, hip, hip, hopit, you don't stop”. Hip-hop ra đời trong một số thanh niên da đen nghèo, sinh sống trong khu phố Bronx ở New York . Khi mới ra đời, rap, hip-hop bị giới ghi âm Mỹ cười nhạo. Họ quả quyết rằng chúng sẽ chỉ tồn tại được trong vài tuần lễ. Nhưng họ đã lầm. Suốt thập niên 1980, ở Mỹ, loại nhạc “hát như nói, nói như hát” này mang nội dung chính trị, chống bất công xã hội, kỳ thị chủng tộc, đã nhanh chóng lan tràn khắp nơi. .
Một điều đáng mừng, rap, hip-hop lại không được giới trẻ ái mộ bằng country music (nhạc đồng quê). Các nghệ sĩ country nổi tiếng hiện nay được giới trẻ tìm nghe, như Faith Hill, Lee Ann Womack, Emmylou Harris và nhất là Shania Twain với album nhạc “Come on over”. Shania Twain đã đoạt giải Grammy năm 1996 dành cho nữ nghệ sĩ trình bày nhạc country xuất sắc nhất. Country music có nguồn gốc từ các ballad Anh vùng Scotland khi loại nhạc này theo đoàn người di dân từ Anh , Ireland , Scotland sang Mỹ lập nghiệp từ những năm đầu TK. 20. Theo thời gian, người Mỹ sinh sống ở các vùng nông thôn và cao nguyên thuộc các tiểu bang miền Nam đã dựa trên các ballad ấy mà khai sinh ra nhạc country. Tiểu bang Tennessee với thành phố Nashville đã trở thành kinh đô của loại nhạc này. Đây thực sự là một loại hình nghệ thuật đáng được phát triển và đề cao.
Ngoài những loại âm nhạc (mà đa số là ca khúc) trên đây, giới trẻ còn thích nghe các ca khúc Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản, thường là những bài hát được trích từ các bộ phim được trình chiếu trên màn ảnh truyền hình thành phố. Có thể nói đây là kết quả của sự tuyên truyền (vô tình) của các phương tiện truyền thông hơn là do giá trị nghệ thuật.
Ca khúc ngoại quốc, lời Việt:
Thuộc nhóm này có thể chia ra làm hai loại: những ca khúc ngoại quốc được dịch lời Việt và những ca khúc có lời Việt viết cho phần nhạc ngoại quốc có sẵn. Các tác giả Việt Nam khi viết lời Việt cho những ca khúc ngoại quốc thường lầm lẫn một cách vô tình hay cố ý về điều này, và chỉ ghi đơn giản, như: “Nhạc: Dân ca Pháp, Lời Việt: Nguyễn văn X.”.
Ca khúc ngoại quốc được dịch lời Việt :
Trong một ca khúc ngoại quốc, người viết lời và nhạc thường khác nhau. Nhạc sĩ sáng tác viết giai điệu cho ca từ của một tác giả khác. Khi đó, nhạc sĩ phải chú trọng và tuân thủ những quy luật về ngôn ngữ của thứ tiếng đó, như: cách phát âm, dấu nhấn giọng,v.v… Đến khi, ca khúc được viết lời bằng một ngôn ngữ khác, người viết lời mới vừa phải bám sát nội dung lời ca gốc, vừa phải tuân theo những quy luật của ngôn ngữ mà mình muốn dịch. Do đó, khi nghe một bài hát ở các thứ tiếng khác nhau, người ta vẫn có thể hiểu và đồng cảm được với những nội dung, tình cảm mà nhạc sĩ sáng tác và người viết lời gởi gắm ở tác phẩm. Đó là trường hợp của những ca khúc nổi tiếng như: Now and Forever (lời Pháp: Et Maintenant), If you go away (lời Pháp: Ne Me Quittes Pas), v.v…
Số ca khúc ngoại quốc có lời Việt được dịch giữ nguyên nội dung nguyên bản không nhiều lắm. Đây là một điều đáng tiếc. Do nhiều giới hạn nhất định về ngôn ngữ, các nhạc sĩ Việt Nam dễ dàng bỏ đi nội dung chính thức của một ca khúc ngoại quốc để thay bằng phần lời Việt nhiều khi hoàn toàn khác với nguyên bản. Đôi khi, ca sĩ trình bày một ca khúc bằng cả hai thứ tiếng nhưng có lời ngoại quốc hoàn toàn khác, đôi khi mâu thuẫn với lời Việt.
Ca khúc ngoại quốc có lời Việt được viết phỏng theo nhạc:
Đa số các ca khúc ngoại quốc đều được các nhạc sĩ Việt Nam mặc cho một chiếc áo mới (nhưng chưa hẳn đẹp, thích hợp) bằng tiếng Việt. Phần lời Việt này được viết hoàn toàn theo cảm hứng chủ quan của nhạc sĩ khiến cho các thính giả trẻ dễ hiểu sai lạc nội dung, không nắm rõ nguồn gốc, xuất xứ của ca khúc ngoại quốc đó.
Trong 1 CD về nhạc Giáng Sinh, của Saigon Audio CD xuất bản gần đây, ca khúc “Feliz Navidad” (tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là: “Chúc Mừng Năm Mới”) do ban nhạc “Boney M” viết lại phỏng theo nhạc truyền thống Tây Ban Nha lại được ghi là: “Nhạc: Dân ca Ý – Lời Việt: Nguyễn Ngọc Thiện” (!). Cũng trong CD đó, một ca khúc của Boney M phối âm lại theo giai điệu của G.F.Haendel, mang tên “Mary's Boy Child” lại được ghi là: “Nhạc: Dân ca Mỹ – Lời Việt: Nguyễn Ngọc Thiện”. Sai lầm trên nếu không phải nơi người viết lời Việt, thì cũng do người biên tập chương trình.
Trong số các ca khúc ngoại quốc có lời Việt thuộc loại này, những ca khúc “nhạc Hoa, Hàn - lời Việt” chiếm gần như đa số. Khi xem nội dung lời Việt của một tập “nhạc Hoa, Hàn”, chúng ta thấy gần như chỉ một nội dung: “tình yêu xa cách, nỗi buồn chia ly, nhớ thương vì tình yêu chia cắt, đau khổ vì kẻ nơi này, người chốn nọ, vì tình yêu phụ bạc,….”. Chẳng lẽ tất cả các ca khúc ngoại quốc đó được sáng tác theo cùng một nội dung, chủ đề?
Ca khúc là một tác phẩm nghệ thuật tổng hợp giữa âm nhạc và văn chương. Như vậy, người viết lời Việt hay dịch lời Việt cho ca khúc cần phải có lương tâm nghề nghiệp hơn là chạy theo thị hiếu nhất thời, rẻ tiền của một số khán thính giả. Bên cạnh đó, cần phải có cách gọi chính xác cho phần lời Việt của các ca khúc ngoại quốc để tránh gây ra ngộ nhận và những hậu quả không tốt cho giới trẻ ưa thích thể loại này.
Ca khúc là sáng tác của các tác giả Việt Nam :
Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, hiện tượng âm nhạc thương mại đang lấn át âm nhạc đích thực. Nói một cách khác, sự thành công của một số người trong công việc kinh doanh âm nhạc đã làm sai lạc thị hiếu của thính giả, đem tới giá trị nghệ thuật “giả” cho nhiều ca khúc Việt Nam, đặc biệt trong loại âm nhạc nhắm vào giới trẻ.
Trên sân khấu, trong các cuộc hội diễn, trên màn ảnh truyền hình, chúng ta ít gặp loại nhạc thương mại đó. Nhưng trong thị trường băng. đĩa CD, trong các quán cà-phê, hàng ăn, tư gia, loại nhạc này đang hoành hành như một bệnh dịch. Chúng cùng mang những đặc tính như: âm điệu não nề, tỉ tê hoặc gào thét, kích động một cách vô lối.
Loại nhạc não nề, tỉ tê, thường mang một phong cách được gọi là “nhạc sến” với những nội dung về tình yêu lẻ loi, bội bạc, thất vọng, buồn chán và mang những cái tên thật “kêu” nhưng trống rỗng.
Nếu là giai điệu kích động, thì thường đó là loại kích động “giả hiệu”, được tô bóng bề ngoài vì mục đích thương mại, lôi cuốn sự tò mò của khán thính giả.
Trong một bài hát có tựa đề Rock con diều (Võ Thiện Thanh), chúng tôi đã cố tìm những đảo phách, hoặc những nhóm liên ba đặc trưng của loại nhạc rock nhưng không thấy. Giai điệu của bài hát là giai điệu mang âm hưởng pop pha lẫn loại nhạc “sến”. Như vậy sao gọi là “Rock con diều”?
Đã có một thời gian, người ta đi tìm một thể loại Rock Việt Nam . Cố gắng này không thành công. Vì sao? Nhạc rock ra đời tại Mỹ. Các ca khúc rock đuợc ra đời trong sự xuất hiện tâm trạng nổi loạn của giới trẻ Mỹ và dành cho ca từ Mỹ. Và, mặc dù cũng cùng mang ngôn ngữ đa âm tiết và không dấu giọng, nhưng nhạc rock của Pháp, của Đức vẫn không sao nổi lên được so với rock Mỹ, Anh. Đặc điểm ngôn ngữ Pháp- Đức, hoàn toàn khác ngôn ngữ Anh-Mỹ. Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn âm và lại có nhiều dấu giọng khác nhau; hơn nữa lời ca tiếng Việt và tâm lý thưởng thức nghệ thuật truyền thống của người Việt mang rất nhiều chất thơ. Vì vậy, không thể nào có nhạc rock Việt Nam đúng nghĩa được!
Nếu có thời gian điểm qua các ca khúc Việt Nam đang được phổ biến, chúng ta sẽ thấy hai điểm rất nổi bật:
Ca khúc thúc mang nhiều lời nhưng ít ý. Các tác giả (không chỉ ở những người trẻ như một số nhạc sĩ nhận định) dùng từ sáo mòn, lắp ráp vô hồn. Một số ca khúc tuy có lúc gây được xao động, chú ý cho người nghe, nhưng tiếc là chúng chỉ lướt qua và không đọng lại gì nhiều trong tâm hồn thính giả. Họ dễ dàng quên ngay. Ngược lại, có những ca khúc mang nội dung không những vô bổ mà còn tai hại, gây ảnh hưởng xấu đến cho lớp thính giả trẻ. Chúng ta dễ dàng tìm thấy trong nhiều ca khúc mới những kiểu nói về tình yêu được bày tỏ thẳng thắn đến dễ dãi, mau thay đổi, như ngọn lửa rơm vừa bùng cháy đã sớm lụi tàn.
Trong sáng tác âm nhạc cũng có hiện tượng….“đạo nhạc” như trong văn học. Trong lịch sử âm nhạc, có nhiều tác giả sáng tác trên một chủ đề của một tác giả khác, như: “6 études viết trên chủ đề của Paganini” của Liszt, “Ave Maria” của Gounod viết trên nền nhạc đệm là bài prélude và fugue số 1 trong bộ “Bình quân luật” của J.S.Bach. Ở đây chúng ta đề cập đến những ca khúc Việt Nam có phần được một số tác giả hoặc sao chép nguyên xi hoặc phỏng theo nhạc ngoại quốc. Điều khiến các tác giả ấy trở thành kẻ đạo nhạc, đó là không nói gì đến nguồn gốc của ca khúc nguyên bản mà chỉ ghi tên mình như là tác giả duy nhất. Gần đây, giới nhạc sĩ chuyên nghiệp đã lên tiếng rất nhiều về hiện tượng “sao chép” nhạc ngoại quốc một cách vô tội vạ của một số tác giả Việt Nam. Các tác giả ấy đã tạo nên một loại ca khúc Việt Nam nghe như nhạc Trung Quốc, Hàn Quốc.
Đây là những điểm đáng buồn của nhiều ca khúc đang được thịnh hành trong giới trẻ.
Các thể loại âm nhạc khác:
Không phải chỉ có ca khúc là thị hiếu duy nhất của giới trẻ hiện nay. Những bạn trẻ, nhất là giới sinh viên học sinh còn dành nhiều cảm tình cho nhạc hòa tấu (chúng tôi không gọi là “nhạc nhẹ”). Họ say mê đi tìm những CD của Yanni, Paul Mauriat, Richard Clayderman, Kitaro và cả những album với chủ đề như; Romantic guitar, Romantic saxophone,v.v… Cả đến những CD hòa tấu của các nghệ sĩ biểu diễn nhạc cụ và nhạc sĩ sáng tác Việt Nam trong nước như tiếng kèn saxophone của Trần Mạnh Tuấn với những ca khúc Trịnh Công Sơn hay tiếng guitar thùng của Vô Thường (người Việt ở hải ngoại) với những ca khúc Việt Nam trước 1975, album “Tự Tình Khúc” gồm những ca khúc của Ns. Trịnh Công Sơn được dàn nhạc Jack Freeman và nhạc công dàn nhạc giao hưởng Hollywoods biểu diễn,v.v…
Bên cạnh nhạc hòa tấu, giới trẻ thành phố còn dành nhiều tình cảm với loại nhạc bán cổ điển (demi-classique) như của các dàn nhạc Mantovani, Yanni, Paul Mauriat, James Last. Xét qua mãi lực bán băng đĩa ở một vài điểm kinh doan lớn trong thành phố, chúng ta dễ dàng nhận thấy thị hiếu tốt đẹp đó đang ngày càng gia tăng. Điều đáng phàn nàn là các phương tiện truyền thông như Đài phát thanh (ở sóng AM, FM), truyền hình dành quá ít đến hầu như không đáng kể số lượng buổi phát thanh nhạc hòa tấu và bán cổ điển. Nếu không có thị trường băng đĩa, có lẽ giới trẻ sẽ cho rằng nói đến âm nhạc tức là nói đến ca khúc.
Nhạc hòa tấu được xem như là trung gian giữa các loại nhạc pop, pop-rock,… với âm nhạc cổ điển, bác học. Trong khi âm nhạc bác học còn là một thực thể xa lạ với thị hiếu của số đông giới trẻ, thì nhạc hòa tấu trở thành bạn đường với họ, giúp họ thoát ra ngoài vòng lẩn quẩn của những ca khúc não nượt, ủy mị, sáo rỗng.
Nếu nói thị hiếu nghe nhạc của giới trẻ chỉ là ca khúc và nhạc nhẹ thì quá chủ quan. Một bất ngờ cho nhiều người đó là, tình cảm của giới trẻ còn dành cho các hình thức khác nhau của âm nhạc dân tộc. Khi bàn đến thị hiếu nghe ca nhạc của công chúng, Ns. Nguyễn Văn Hiên đã phát biểu trong bài tham luận tại cuộc hội thảo ngày 6/10/2000 tại Hà Nội đã được đề cập đến ở phần trên: “...thích pop-rock, không phải tất cả. Có một số thanh niên học sinh rất mê hát dân ca. Câu lạc bộ Dân ca quận huyện nào cũng có. Thành phố cũng có CLB Dân ca Tiếng hát Quê hương, CLB Hát ru,…
Trong số các hình thức âm nhạc dân tộc, giới trẻ ở Tp.HCM còn dành cảm tình đặc biệt cho thể loại cải lương. Nhìn số lượng các bạn trẻ tham gia những giải cải lương Trần Hữu Trang, Bông Lúa Vàng gần đây, chúng ta dễ thấy điều đó.
Một điều bất ngờ khác cho chúng tôi khi được biết rằng ngay tại Sài Gòn, giới trẻ cũng đang vào cuộc với…. ca trù! Tại Đại học dân lập Hùng Vương, vào tháng 10 năm 2000, câu lạcbộ Ca trù được thành lập. Tài sản của CLB không có nhiều, với 4 cây đàn đáy, 10 bộ phách, 3 trống cùng vài chục băng cassette. Thế nhưng những sinh viên trẻ khoa Du lịch của đại học này đã thực sự thu phục các thính giả ca trù khó tính qua những bài nổi tiếng như “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”, “Kính Tâm” (điệu hát ru), “Tưởng Niệm",v.v…Và buổi hòa nhạc vào ngày 13/4/2001 vừa qua để tưởng niệm 100 ngày mất của cố NSND Quách Thị Hồ (người được UNESCO trao tặng danh hiệu: Nghệ sĩ hát ca trù đặc sắc của Việt Nam) do các bạn sinh viên trẻ thuộc CLB Ca trù Đại học Hùng Vương đã là một ngọn nến nhỏ nhưng đủ tỏa sáng cho một vùng tối của ca nhạc trẻ hiện nay. Việc làm đó của các bạn trẻ thật đáng trân trọng.
Nguyễn Bách