Bàn tròn âm nhạc
Lần theo dấu vết một khúc nhạc sériel
[14:33 18/01/2004 (GMT+7)]
Lần theo dấu vết  một khúc nhạc sériel
					
					
					
[+] Click vào để xem hình lớn
Lần theo dấu vết một khúc nhạc sériel

Sériel - một dòng nhạc đương đại do Arnold Schönberg khởi xướng từ những năm đầu thế kỷ 20 và gây "ồn ào" vào giữa thế kỷ. Có rất nhiều ý kiến phê phán, thậm chí phản bác, cho đó là loại âm nhạc "máy móc", theo những công thức, là sản phẩm của lý trí chứ không phải là những rung cảm từ tâm hồn.

Musique dodécaphonique chối bỏ tính chất của nhạc giọng điệu, nó xóa nhòa ý niệm về trưởng - thứ, về tính chất và những quan hệ của giọng điệu. Trên cơ sở thẩm mỹ đó musique dodécaphonique dùng những chuỗi (serie) âm thanh với những thủ pháp đặc trưng của mình nên có tên gọi là musique sérielle.
Chúng ta hãy thử lần theo dấu vết một khúc nhạc sériel để hiểu thêm về một dòng nhạc đương đại của thế kỷ 20.
Giai điệu của musique sérielle được "chế tác" như thế nào?
Khi nghe nói đến những từ như: contemporary, dodécaphonist, sériel... chúng ta thấy rất "ghê gớm", nhưng thực ra không có gì phức tạp lắm nếu chúng ta nắm được những nguyên tắc của nó và những nguyên tắc này cũng không quá khó. Có thể đọc xong bài này, các bạn thử sáng tác một bản hòa tấu ngắn theo phong cách sériel xem sao?
Hãy lấy một phần trong biến tấu số 1 của tác phẩm Các biến tấu cho dàn nhạc (op.31) của Arnold Shönberg - "tổ sư" của nhạc sériel - để phân tích.
Schönberg đã bắt đầu như thế nào?
Đầu tiên từ gamme chromatique (có 12 âm), ông hoán đổi vị trí các bậc để tạo ra một chuỗi nốt nhạc trầm bổng (tất nhiên chúng thật khó du dương), sau đó ông đánh số từ 1 tới 12. Chúng ta tạm gọi câu này là câu Origine (O).
Từ câu Origine, ông dùng những thủ pháp sau đây để tạo thêm 3 câu nhạc khác:
- Thủ pháp ngược chiều (Retrograde), nghĩa là viết lại câu nhạc đó từ số 12 lùi dần đến 1. Tạm gọi là câu Retrograde (R).- Thủ pháp đảo ảnh (Invertion), nghĩa là viết lại câu nhạc với qui luật: so với nốt đứng trước, nếu nốt kế tiếp theo sau đi xuống một quãng nào đó thì nốt đảo ảnh sẽ đi lên bằng một quãng tương ứng và ngược lại (chú ý có thể dùng nốt đồng âm khi viết lại câu đảo ảnh). Tạm gọi là câu Invertion (I). (Ở trường hợp này, sau khi dùng thủ pháp đảo ảnh, chúng được dịch lên 1 quãng 6 trưởng).
- Thủ pháp ngược chiều + đảo ảnh (Retrograde + Invertion), hay nói cách khác là thủ pháp ngược chiều của câu Invertion. Tạm gọi là câu Retrograde + Invertion (R + I). (Chú ý ở trường hợp này, sau khi dùng thủ pháp ngược chiều + đảo ảnh, chúng được dịch xuống 1 quãng 10 thứ).
Bây giờ Schönberg sắp xếp các câu này lại và cắt ra từng chuỗi nhỏ, rồi thêm tiết tấu cho nó. Bây giờ, ông sắp xếp 4 câu nhạc trên theo thứ tự như sau: Origine, Retrograde + Invertion (lên 1 quảng 6 trưởng), Retrograde,  Invertion (xuống 1 quãng 10 thứ) như sau :
Đó là phần đầu của biến tấu số 1.
Còn "hoà âm" thì sao?
Cũng không có gì phức tạp lắm, hãy xem cách làm của A.Shönberg.
Từ một chuỗi âm nhỏ, xếp chúng lại thành cột dọc và đó là "hòa âm phần đệm" cho giai điệu. Tuy nhiên, có thể dẫn ra trường hợp sau đây để thấy rằng A.Schönberg đã lấy các chuỗi nhỏ của câu Invertion(xuống 1 quãng 10 thứ) để làm "hòa âm" cho giai điệu (câu Origine).
Đến đây, các bạn đã đủ tự tin để sáng tác thử một bản hòa tấu theo phong cách sériel chưa?
  • Hữu Trịnh
Như vậy Schönberg đã có 4 câu nhạc (chưa có trường độ) là: Origine, Retrograde, InvertionRetrograde + Invertion.
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX