Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê, lửa vẫn hừng hực đỏ
[02/08/2011 15:10:39]
Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê, lửa vẫn hừng hực đỏ
					
					
					
[+] Click vào để xem hình lớn
Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê, lửa vẫn hừng hực đỏ
Giáo sư, Tiến sĩ nhạc học Trần Văn Khê

Vườn nhỏ nắng lên, trước cau sau chuối, gió khẽ động mấy bụi tre khóm trúc. Giáo sư, Tiến sĩ nhạc học Trần Văn Khê ở đó, đang diễn tấu sinh động một khúc ca trù mới do ông ngẫu hứng sáng tác cách đây hai năm, khi nhìn một thiếu nữ đẹp dang so dây nắn phím. Hai tay thay phiên vỗ lên hai chân đánh giả trống, và múa nhịp còn miệng ca luyến láy theo cung bậc tính tinh tang tùng tính tinh tang. Trời đất muôn năm không già, trái tim Danko(1) vẫn cháy sáng trong đêm còn ngọn lửa Trần Văn Khê vẫn hừng hực đỏ trong buổi canh tàn khuya nhặt mịt mờ của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Vâng, gạt bỏ các danh hiệu, bằng cấp, địa vị, huân chương giải thưởng, còn đó là một trái tim nhiệt thành với âm nhạc … dù T.V.K đã đã đi qua hết phần đầu của chu kỳ thứ hai (2) của một đời người…

Nhìn em ôm đàn, đôi mắt mơ màng
Đôi tay dịu dàng, nhẹ khảy dây đàn
Tính tỉnh tình tang
Tiếng đàn dìu dặt, khi khoan khi nhặt,
                    khi bổng khi trầm…

Vườn nhỏ nắng lên, trước cau sau chuối, gió khẽ động mấy bụi tre khóm trúc.  Giáo sư, Tiến sĩ nhạc học Trần Văn Khê ở đó, đang diễn tấu sinh động một khúc ca trù mới do ông ngẫu hứng sáng tác cách đây hai năm, khi nhìn một thiếu nữ đẹp dang so dây nắn phím. Hai tay thay phiên vỗ lên hai chân đánh giả trống, và múa nhịp còn miệng ca luyến láy theo cung bậc tính tinh tang tùng tính tinh tang. Trời đất muôn năm không già, trái tim Danko(1) vẫn cháy sáng trong đêm còn ngọn lửa Trần Văn Khê vẫn hừng hực đỏ trong buổi canh tàn khuya nhặt mịt mờ của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Vâng, gạt bỏ các danh hiệu, bằng cấp, địa vị, huân chương giải thưởng, còn đó là một trái tim nhiệt thành với âm nhạc … dù T.V.K  đã đã đi qua hết phần đầu của chu kỳ thứ hai (2) của một đời người… 

***

Đi và đã trở về, về trong niềm vui gặp lại quê nhà, sống giữa vòng tay bạn bè và học trò, được nói tiếng Việt, được tha hồ hát dân ca, ca trù, quan họ, điệu lý, hò vè trong niềm đồng cảm và chia sẻ. Hơn 50 năm xa xứ, tôi vẫn mang quốc tịch Việt Nam, không Pháp, không Canada, dù là hội viên của nhiều Hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế và…Giáo sư lại mỉm cười, vẫn nói và viết tiếng Việt rất chuẩn bên cạnh các ngôn ngữ Pháp, Anh, Đức…

Đời, thác ghềnh lên xuống và cuộc nhân sinh lắm nỗi nhọc nhằn. Giáo sư Trần Văn Khê cũng không là ngoại lệ. Chim không hót, hoa không cười, người không hy vọng…Bốn tường vôi trắng xóa một màu tang… Đó không phải là thơ, nhưng là ý nghĩ của ông đóng đinh lên bốn bức tường bệnh viện. Ba năm hai tháng (3) bị nhốt trong vòng vây bệnh hoạn và những cơn đau đã khiến ông ngậm đủ mùi vị yếm thế, nhận ra bóng những địa cầu mồ mông quạnh…Nhưng cùng tắc biến, biến tất thông. Trên bờ miệng vực chênh vênh của nghi hoặc và niềm tuyệt vọng,  âm nhạc, như vẻ đẹp cứu rỗi đã giải phóng ông. Và chính ở đây, ông cũng nhận thức ra mình đã lạc lầm khi chạy theo tiếng kèn đồng, cung bậc thang âm điệu thức nhạc Tây phương trong thời kỳ hoạt động chung với Lưu Hữu Phước và chỉ huy dàn nhạc trường đại học Hà Nội.  Tiếng sáo, tiếng tiêu, tiếng đàn tranh buổi đầu nằm nôi lúc này trổi dậy trong ông nên ông đã quyết định chuẩn bị học nhạc học cổ truyền. Đọc, ghi chép, nghiên cứu mặc kệ cơn đau dày vò…Mình phải là mình trước đã, chứ không thể là Tây hay Mỹ …

Ra khỏi viện, một lần nữa, định mệnh xô ông vào lạc lầm khi được mời tham gia đóng phim “Sur le Pont de la Rivìere Kwai”( Trên cầu bắc ngang sông Hoài)  chung với tài tử gạo cội Humphrey Boggart và được trả thù lao rất cao. Nếu Humphrey Boggart  không mất sớm khi chưa kịp hoàn thành vai diễn, có thể tôi đã theo nghiệp phim ảnh thay vì trở thành người nghiên cứu âm nhạc. Giáo sư lại mỉm cười rạng rỡ và tôi tin đó cũng là nụ cười của ông Tiến sĩ tân khoa nhạc học đại học Sorbonne năm 1958. Cầm tấm bằng trong tay, nghề nghiệp đã định, đường đi đã ổn, không phải chạy vạy cơm áo khốn khó, T.V.K đã băng băng về phía trước, chuyên chú nghiên cứu và trình bày âm nhạc cổ truyền của Việt Nam ra thế giới cho đến hôm nay … 

 Cuộc sống vốn là những ngẫu nhiên, những ngẫu nhiên được an bài. Số phận một con người không phải khi nào cũng nằm trong dự kiến dự định của chính anh ta. Giáo sư lại chia sẻ. Năm 1975, tôi đã từ chối không nhận lời mời của trường Đại học Ottawa, từ chối cả quốc tịch Canada.(4) Nhờ vậy, trước sau vẫn là người Việt nên năm 1976, tôi mới được Hội Nhạc sĩ Việt Nam mời về nước gặp gỡ các bạn đồng nghiệp và nghiên cứu thêm về Âm Nhạc truyền thống Việt Nam. Không thể nghiên cứu âm nhạc dân tộc mà ở ngoài cái nôi của đất nước. Xa quê, xa nhà nhưng tâm hồn tôi vẫn chìm đắm trong mênh mang điệu lý câu hò và niềm vui lớn hôm nay là được thực sự sống trên đất nước mình để không phải thèm được nói tiếng Việt …

Tôi ngồi im nghe giáo sư nói chuyện. Ngoài kia trong khu vườn, bóng chim vừa khẽ động, cánh chao nghiêng. Một con bướm cũng vừa đậu xuống một nhành hoa. Lửa vẫn cháy từ trong căn nhà nhỏ số 32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh (5). Hỏi chuyện gia đình, giáo sư cho biết có hai trai hai gái, ba cháu đang sống tại Pháp, một cháu đang sống tại Việt Nam. Mình tôi ở trong căn nhà nầy, cô đơn nhưng không cô độc. Lửa vẫn rực lên trong đáy mắt Giáo sư. Ông đưa tay chỉ cái máy vi tính, những kỷ vật gồm băng, đĩa, bài báo…; chỉ cây đàn, ống sáo và mỉm cười…Tất cả mua vui cho tôi cùng với những bạn bè cũ mới và học trò. Ông lại kể chuyện mình thân hành đến dạy cho một lớp thể nghiệm gồm có 20 em chọn lọc trong số thiếu nhi trường Tiểu học Trần Hưng Đạo (Tp Hồ Chí Minh). Tôi đã dạy chúng sáng tác ca dao và hát đồng dao. Vâng, vị Giáo sư từng đứng trên bục các giảng đường quốc tế lại mần mò tìm phương pháp mới để dạy thiếu nhi Việt Nam yêu tiếng nói lời ca của dân tộc. Lửa vẫn cháy và ngọn chưa bao giờ tàn lụi…

- Đi và nghiên cứu âm nhạc nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là nhạc của Châu Á, Giáo sư nhận thấy âm nhạc dân tộc như thế nào trong dòng chảy đó: đường nét và những khác biệt cơ bản trong nội dung?

- Xét tổng thể, nhạc phương Tây, có hình thức tỉ lệ với khuôn thước, có bề ngang và cả bề cao,  nên có hòa âm phức điệu. Âm nhạc VN, cũng như đất nước VN có cấu trúc động và mở. Nghe nhạc Việt không phải nhìn thấy phiến đá trong vách mà là nhìn bức tranh, bức thêu, cần biết chỗ nào đầu cuối còn khúc giữa là tùy hứng tùy tâm mà cải biến.  Người nghệ sĩ do đó rất rộng đất để ứng tác, ứng tấu một cách ngẫu hứng trong quá trình biểu diễn. Nói cách khác, nhạc Việt có nguyên tắc mà không có hình thức nên không hề xơ cứng mà biến hóa trăm hồng ngàn tía.

- Chúng ta có quyền tự hào vì nhạc Việt có khác hơn nhưng không hề thua âm nhạc các nước. Cái khác căn bản là cao độ. Âm giai của các dân tộc khác là cố định còn cao độ của chúng ta trong “hò xừ xang xê cống” thì có non, có già. Chính cái non, già này làm âm nhạc Việt Nam linh động, biến hóa vô lường trên những cung bậc cảm xúc chứ không đóng chết cứng trên nền cao độ. Điểm nữa là âm nhạc Việt mang tính đời, tính triết lý đặc thù. Tiết tấu chen nhau có âm có dương tuần hoàn mà tiến và giao hòa kết hợp.  Đờn ca tài tử là một ví dụ.  Người ta học thuộc “lòng bản”nhưng không phải đưa một cách nguyên xi mà theo nguyên tắc “học chân phương và đờn hoa lá. Học thì vuông vắn nhưng khi hành thì phải trổ thêm hoa mọc thêm lá. Phát triển sinh động đúng theo cấu trúc VN không phải tịnh và đóng nhưng là động và mở…

- Nhiều ý kiến chê khen các loại nhạc cụ dân tộc là không thể bằng guitare, violon, piano …của Tây Phương? Giáo sư có lý giải thế nào?

- Họ đang mặc cảm tự ti một cách sai lầm vì chưa nhận thức ra rằng trong thời kỳ hội nhập thì người ta tìm kiếm nét đặc thù của mỗi dân tộc, phân biệt và nhận diện Anh, Pháp, Ấn Độ, Trung Hoa… chứ không đề cao việc hơn thua. Hơn nữa, âm nhạc phương Tâ, Ấn Độ dù có hay thì chúng ta chỉ học hỏi chứ không thể lấy âm nhạc của họ làm của mình. Việt Nam phải là muôn năm Việt Nam. Cây đàn bầu 1 dây là một thí dụ hơn hẳn và đặc biệt vì “Một dây nũng nịu đủ lời/ Nửa bầu chứa cả một trời âm thanh”( Thơ Văn Tiến Lê). Một vài nước trong vùng như Trung Quốc, Nhật, hay châu Phi…cũng có đàn một dây nhưng đàn của họ không thể tạo ra bồi âm như đàn bầu. Loại đàn thứ hai là đàn Đáy  đới cầm) gồm ba dây : Hàn- trung- tiếu, có tiếng âm tiếng dương, có cung nam cung bắc. Cần đàn dài nhất thế giới, nhấc thì bổng, đánh thì trầm.

- Thực tế hiện nay là âm nhạc phương Tây ngày càng rộ nở còn nhạc cổ truyền thì lụi tàn. Giáo sư có thể cho biết một vài lý do cụ thể. 

- Tôi hoàn toàn đồng ý là nhạc Việt đang bế tắc, đang lụi tàn và tương lai là bi đát. Lý do bắt nguồn từ nhiều thực tế: 
+ Đất nước bị đô hộ, người Pháp cho nghe nhạc Tây dần dần rồi quen. ( cả cách ăn, mặc, hành xử cũng bị lai hóa). Thứ đến là chiến tranh nên dòng chảy văn hóa bị ngưng trệ. Ba nữa, nhạc Việt  không được chính quyền quan tâm đúng mức, chỉ nêu khẩu hiệu mà không đưa ra liệu pháp. Cộng vào đó là dòng chảy kinh tế thị trường và thị hiếu. Đa phần là “ xem” chứ không phải “ nghe” nhạc nên áo váy, lưng trần, điệu múa rồi rock, rap, chachacha  thì kích thích thanh thiếu niên hơn là một khúc tiêu, sáo thổi, một điệu hò khoan… Cạnh đó, nghệ sĩ chơi nhạc cụ dân tộc không có đất sống…
+ Những lý do trên làm người ta quay lưng với cổ nhạc còn nhạc mới thì không có sự phát triển đúng hướng. Tuyên ngôn kết nối nhạc dân tộc với đương đại là việc bất khả thi, thậm chí là giết chết nhạc cổ truyền .

- Giáo sư có thể nhận xét thêm về tình hình việc phát triển dân ca, quan họ, ca trù… của một nhạc sĩ Việt Nam trong thế kỷ vừa qua như thế nào?

-Tôi chỉ là một nhà nghiên cứu Âm nhạc truyền thống dân tộc Việt Nam. Tôi chỉ theo dõi những sáng tác của một số nhạc sĩ tôi yêu thích. Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có rất nhiều bài đậm màu dân tộc mà ít người biết như bài “Ai nhớ ai?” hơi Sa Mạc, “ Hương giang dạ khúc”  hơi Hò mái nhì , và trong Ca kịch “Tục Lụy”( Thơ Thế Lữ), Lưu Hữu Phước đã dùng nhiều hơi trong đờn ca tài tử: hơi Bắc trong bài “Người thợ săn”, hơi Xàng xê trong bài của Việt Tử lúc không chịu trả cánh cho Nhã Tiên, hơi Quảng trong ba bài đối đáp giữa Tiều phu và Nhã Tiên, hơi Ai Oán trong bài “ Lời ru chim Lạc”, sáng tác cuối cùng của nhạc sĩ và đậm màu dân tộc nhất. Ns Phạm Duy ít nhiều thành công với các ca khúc dân ca của mình như” Nhớ người thương binh, Bà mẹ Gio Linh, Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, Mùa đông chiến sĩ, Đố ai quét sạch lá rừng” v.v… Nụ tầm xuân là một ví dụ khi “trèo lên …lên trèo lên” vận hành giai điệu theo phong cách của lưu thủy. Đặc biệt, Phạm Duy đã phổ nhạc nhiều câu thơ lục bát một cách rất thần tình…

- Như vậy, theo Giáo sư, có thể phát triển nhạc cổ thành mới lạ hơn bằng cách nào?

Nhạc sĩ sáng tác tân nhạc theo phong cách nhạc cổ truyền, thì có nhiều cách thức khác nhau: phát triển câu  rao là một, mở rộng âm vực cho các điệu dùng trong ngâm thơ như “bán xuân bán ai” trong cách ngâm thơ miền Nam, ngâm xổng, sa mạc, bồng mạc theo cách ngâm thơ miền Bắc , ngâm thơ cũng có thể không phải chỉ dùng bằng ấy lối mà sáng tạo tùy theo hơi thơ …Ví dụ: Ngâm bài“ Nhớ rừng” của Thế Lữ thì có thể bằng giọng hát bội bi hùng mới bộc lộ được giọng điệu bài thơ.Trong cách biểu diễn nhạc khí, áp dụng triệt để nguyên tắc “chân phương, hoa lá” trong nhạc truyền thống, và ngẫu  hứng trong lúc vận hành giai điệu v..v..


- Nhạc trẻ đang có sức sống và cả đất sống còn nhạc cổ thì đang giãy chết. Giáo sư lý giải hiện tượng này như thế nào?

- Nhạc trẻ có cái mới lạ và cái hào nhoáng bên ngoài, dễ nghe, dễ nhớ dễ chơi nhưng cũng dễ bỏ. Nó là một thú chơi chứ không phải là một nghệ thuật. Nhạc cổ là một nghệ thuật để phụng sự chứ không phải là một món hàng để người ta bán. Chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu cái cao đẹp của nghệ thuật thì nhạc cổ mới có cơ hội phục hưng. Có hiểu mới thương, có thương mới chịu khó học hỏi, luyện tập để mua vui cho riêng mình hay biểu diễn cho người khác nghe.

- Để có thể phát triển nền nhạc dân tộc, chúng ta cần phải thế nào?

- Đây là một câu hỏi quá lớn. Tôi chỉ xin tóm gọn trong mấy điểm cơ bản:
+ Phải xóa bỏ tự ti mặc cảm về nền âm nhạc nước nhà là lạc hậu, phải nhận rõ nét đặc thù không lẫn lộn của mỗi dân tộc chứ không phải là sự so đo hơn thua.
+ Phải đem âm nhạc vào học đường, bắt tay giáo dục con trẻ từ ngày còn thơ với một phương pháp mới, sách giáo khoa mới, mục tiêu mới. Do vậy là một cải cách triệt để và rộng lớn ( dạy cái gì, theo phương pháp nào, ai dạy…)
+ Chính quyền phải thiết thực hổ trợ: đưa âm nhạc vào chương trình của học đườn; tuyên dương  và phát huy nhạc cổ truyền trong các dịp lễ hội, đầu tư kinh phí thiết thực cho nghệ sĩ có thể sống với  nghề nghiệp,  và các trường  phải đủ phương tiện  đào tạo…

 ***

Tôi chia tay Giáo sư ra về với ngậm ngùi. Trời đang ngọ và cơn mưa lướt thướt ướt dầm dề mặt phố, có vẻ cũng kéo chìm ướt mặt nền âm nhạc cổ truyền. Tuy nhiên, đằng sau cánh cửa vừa khép lại, ngọn lửa T.V.K vẫn thắp sáng một niềm tin …

LÊ VŨ 

 



 
1- Trích “Bà lão Idecghin” của  Maxim Gorki. Danko đã móc trái tim mình làm đuốc sáng soi cho dân làng khi họ đi trong hang tối.
2- Theo quan niêm mới: con người có thể sống đến 120 tuổi. Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ tuổi 61-120.
3- Trần Văn Khê đã phải vào viện điều trị ở Pháp từ tháng 8/1951 đến tháng 10/1954
4- Trường Đại học trao tặng Bằng Tiến sĩ danh dự về Nhạc học, trả số lương bằng hai lương Pháp và sau 3 năm giảng dạy, sẽ được nhập quốc tịch Canada
5- Căn hộ của chính quyền cấp cho Giáo sư T.V.K và sau nầy thành nhà lưu niệm.
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX