- Nhạc cổ điển
- Nhạc trẻ
- Âm nhạc dân gian
- Bàn tròn âm nhạc
- Lý luận - Phê bình
- Tác giả - Tác phẩm
- Gương mặt ca sĩ QT
- Nhóm nhạc
- Thường thức âm nhạc
- Nói chuyện sáng tác
- Thời trang và nghệ sĩ
- 1001 sự cố
- Chuyện giờ mới kể
- Đời thường nghệ sĩ
- Góc xấu của "Sao"
- Hậu trường ca nhạc
|
Mỹ học âm nhạc: Bàn về Nội dung* (tiếp theo)
[13/05/2009 8:14:05]
LTS: Mỹ học âm nhạc là chuyên ngành hãy còn ít được đề cập ở Việt Nam, kể cả ở các nhạc viện. Trong khi đây là những cơ sở lý luận hết sức cần thiết và bổ ích cho việc sáng tác, trình diễn, thưởng thức và phê bình âm nhạc. Chính vì thế GĐX mạn phép trích dịch cuốn “The Aesthetics of Music” của Roger Scruton, một tác giả được nhận định là ”Khó có ai phù hợp hơn ông trong việc viết về mỹ học âm nhạc”...
Cảm xúc
Việc sử dụng thuật ngữ “biểu hiện” để miêu tả nội dung âm nhạc phản ánh một quan niệm phổ biến cho rằng âm nhạc có nghĩa, bởi vì nó có quan hệ với tâm trạng chúng ta theo một cách nào đó. Tuy thế, khi Croce lần đầu tiên xác lập sự khu biệt giữa sự miêu tả và sự biểu hiện ở vị trí trung tâm của mỹ học, ông đã không nhằm liên kết nghệ thuật với cảm xúc. Ngược lại, Croce phản đối cái gọi là “estetica del simpatico”, một thái độ vận dụng quá nhiệt thành của những người kinh nghiệm chủ nghĩa, là xu hướng định vị cảm xúc của thính giả ở vị trí trung tâm của kinh nghiệm mỹ học và giảm bớt vai trò nghệ thuật đến mức chỉ còn là một phương tiện kích thích. Theo Croce, một tác phẩm nghệ thuật thể hiện một “khả năng trực giác”, và Croce đã hình dung vài điều giống như sự tiếp nhận trực tiếp và tiên nghiệm về thế giới mà Kant (và Croce cũng tương tự) đã đem đối chiếu với những khái niệm hãy còn lan man theo yêu cầu của nhận thức khoa học. Các triết gia khác thậm chí còn tránh xa cách dùng thuật ngữ “biểu hiện” vốn chẳng có gì khác lạ. Như tôi đã lưu ý trong chương 6 (bàn về "sự biểu hiện"-ND), theo Nelson Goodman, một tác phẩm nghệ thuật có thể biểu lộ bất kỳ “tính chất gì đã được xác định”-nghĩa là (bỏ qua chủ nhĩa duy danh luận của Goodman) bất kỳ thuộc tính gì. Một tác phẩm có thể biểu hiện sự buồn chán, sự mong manh, sự rối loạn, sự mênh mông, sự mơ hồ, sự buồn bã ... Bất cứ thứ gì có thể được minh họa bằng thí dụ mang tính chất ẩn dụ đều có thể được biểu hiện: và không có một giới hạn tiên khởi nào đối với ẩn dụ. Điều đó dẫn đến hệ quả là các lý thuyết về sự biểu hiện trong mỹ học không nhất thiết phải là những lý thuyết về cùng một điều tương tự. Mối tương quan được Goodman thảo luận ít có điều để vận dụng so với những gì được Croce thảo luận, hay so với những điều tôi đã xem xét trong chương này. Trong những chương kế, tôi sẽ tiếp tục xem xét sự biểu hiện của cảm xúc trong âm nhạc. Mặc dù ý nghĩa của âm nhạc không nằm thuần trong nội dung cảm xúc, sự biểu hiện của cảm xúc là một trường hợp mẫu của ý nghĩa âm nhạc. Sẽ thật thiếu sót nếu bắt đầu một cuộc thảo luận như thế mà không nói rõ cảm xúc là gì. -Trước tiên, có một sự cám dỗ trong việc diễn đạt về xúc cảm bằng những thuật ngữ “nội quan” hay liên quan đến “chủ thể”. Thế nhưng, ngay cả nếu tồn tại một bình diện bên trong như thế thì nó cũng không làm nên bản chất của một cảm xúc-hay bất kỳ điều gì khác. Giống như những biểu tượng tinh thần khác, xúc cảm là những trạng thái của một sinh vật có thể nhận biết một cách công khai. Xúc cảm được nhận biết bằng những thuật ngữ chỉ vai trò của chúng trong hệ thống tri nhận, được biểu lộ qua sự khao khát, niềm tin và hành động. -Kế đó, nói đến tâm trí con người là nói đến tâm trí của một người cụ thể, một người được cá biệt hóa dựa vào lý trí, trách nhiệm và khả năng tự nhận thức. Cá tính hay tính cách biến đổi đời sống nội tâm của chúng ta, từ phản ứng thụ động chuyển thành đối thoại chủ động. Sinh vật có lý trí nỗ lực tự khẳng định mình thông qua cảm xúc và hòa nhập vào mối quan hệ có ý thức với đồng loại. -Trong khi cảm xúc bao gồm cảm giác (Ví dụ,có một vài cảm giác giống như cảm giác sợ hãi), nhưng không phải “cảm giác như thế nào” mà “cảm giác tạo nên điều gì” mới là điều quan trọng. Trong trường hợp thông thường, một cảm xúc là một động cơ thúc đẩy hành động. Bạn hành động để thoát khỏi tình yêu, nỗi sợ hãi, sự lúng túng. Sự quan tâm của chúng ta đối với cảm xúc của những người khác xuất phát từ sự quan tâm của chúng ta trong một phạm vi rộng rãi về “điều gì làm cho con người có động cơ”. Tôi muốn biết vì sao anh đã làm cái điều mà anh đã làm hay đã nói cái điều đã nói: và tìm hiểu về trạng thái xúc cảm của anh để tìm ra lời giải đáp. -Cảm xúc là những trạng thái có chủ tâm. Một cảm xúc đều có liên quan với / về đối tượng của nó, và đối tượng đó không có sự tồn tại mang tính chất chủ tâm theo cách nói của Brentano-điều đó nhằm nói rằng cảm xúc cần tương ứng với không phải là một đối tượng có thật trong thế giới hữu hình. Một cảm xúc không chỉ là một phản ứng trước một kích thích, mà còn là một phản ứng đối với một suy tưởng. Hơn thế nữa, một cảm xúc được hình thành trên những suy tưởng góp phần xác định rõ “đối tượng hình thức” của nó-điều kiện mà đối tượng có chủ tâm phải đáp ứng, nếu đó chính là đối tượng của cảm xúc đó. Mặc dù nỗi sợ hãi bao hàm ý nghĩ về một vài điều gì đó mang lại rủi ro cho tôi; trong khi sự ghen tị lại bao hàm ý nghĩ về một ai đó như là kẻ đối địch, còn sự kiêu hãnh thì bao hàm ý nghĩ về một vài điều gì đó làm tăng thêm danh tiếng hay uy tín cho tôi. Tuy nhiên, không phải mọi ý nghĩ đều là niềm tin và nơi nào thiếu niềm tin thì nơi ấy đều dẫn đến hành động như nhau. Khi đọc những tác phẩm hư cấu, mặc dù tôi không tin những gì tôi đã đọc có trong thực tế, Tuy nhiên, tôi vẫn có thể nảy sinh những cảm xúc khi đọc, và cảm xúc của tôi dựa trên cơ sở suy tưởng. Trong những trường hợp như thế, cảm xúc bị tước đi sức mạnh thúc đẩy thông thường, và tồn tại trong một hiện thực tư duy thuần khiết. Có một vấn đề thực tế liên quan đến bản chất của những xúc cảm mang tính chất tưởng tượng này., và liệu chúng ta có thể suy nghĩ một cách đúng đắn về chúng như chúng ta nghĩ về những kiểu động cơ thông thường. -Trong khi những sinh vật có cảm xúc, chỉ riêng loài sinh vật có khả năng tự nhận thức có được những tư duy hình tượng về những gì mà tôi đã từng viện dẫn ở trên. Nói chung, xúc cảm của sinh vật có khả năng tự nhận thức có cấu trúc giúp khu biệt sinh vật đặc biệt này với những động cơ của sinh vật khác. Một chủ thể có khả năng tự nhận thức không chỉ có thể nhận thức về đối tượng của một cảm giác mà còn có thể nhận thức về chính bản thân với tư cách là chủ thể. Do đó, chủ thể đặt chính mình vào trong xúc cảm của mình, và biểu hiện chính mình thông qua những xúc cảm đó. Tới một mức độ nhất định, cảm xúc của anh ta là tạo phẩm của sự sáng chế riêng của anh ta, và được phát triển không chỉ riêng từ những suy tư về đối tượng, mà còn có cả những suy tư về chủ thể. Vì thế, cảm xúc của chủ thể tự giác có thể bị điều chỉnh sai lạc bằng nhiều cách không được nhận ra trong giới sinh vật. Cảm xúc có thể trở nên vị kỷ, đa cảm, tầm thường-và đó sẽ là một nhiệm vụ của những chủ đề tranh luận gần đây nhằm kiểm tra những điều kiện này, cũng như nhằm chỉ ra dấu hiệu tiêu cực của chúng trong âm nhạc. Do đó, chủ thể tự giác bị thu hút vào đời sống nội cảm của anh ta theo một cách đặc biệt. Có lẽ tính chân thật của cảm xúc khiến nó gần gũi hơn bất cứ khía cạnh nào khác của đời sống con người. Cảm xúc có cấu trúc được Hegel thừa nhận như quy tắc phổ quát. Cảm xúc tự giác bắt nguồn từ chủ thể, còn phôi thai, tức thì, và việc mạnh dạn phát lộ ra ngoài dẫn đến cuộc chạm trán với “cái khác nó”, đối tượng, có sức kháng cự lại với ý chí. Từ cuộc chạm trán này, cảm xúc đạt tới sự chính xác hay sự xác định rõ ràng, và chủ thể bắt đầu nhận biết bản thân như một chủ thể có động cơ thúc đẩy. Cảm xúc trở nên cái vốn là bản chất của nó, xuyên qua quá trình biểu hiện công khai của nó. Cảm xúc định hình và kết thúc trong đối thoại với những đối tượng khác; thông qua “sự hiện thực hóa” trong sự sắp xếp một đối tượng, chính chủ thể cũng được hiện thực hóa, như một đối tượng của sự nhận thức riêng của mình và như là tác nhân đưa ra quyết định. Vì thế sự biểu hiện xúc cảm cũng chính là một sự sáng tạo của cảm xúc. Thông qua sự biểu hiện, chủ thể tự giác lập kế hoạch để bản thân trở thành những thực tế của hành động và sự am hiểu đã giúp tạo nên hình thức đối với khả năng tự nhận thức của anh ta. Sự biểu hiện của cảm xúc cũng đưa đến việc hình thành ý thức của chủ thể. Những tư tưởng sau cùng này thật khó diễn đạt chính xác, nhưng đã ẩn sau suy nghĩ của Collingwood khi ông đưa ra khái niệm về sự biểu hiện trung tâm đối với mỹ học, và những tư tưởng này mang lại câu trả lời cho vấn đề từng gây tranh cãi là: vì sao sự biểu hiện của cảm xúc trong nghệ thuật lại quan trọng đối với chúng ta đến thế. Câu trả lời là nghệ thuật cung cấp cho chúng ta một phương tiện không chỉ nhằm để bộc lộ cảm xúc, mà còn trang bị cho chúng ta một hình thái để đối diện với chính mình. (Còn tiếp) Nguyễn Thanh Bình dịch
-Trích dịch chương 11 (bàn về Nội dung) cuốn “The Aesthetics of Music” của Roger Scruton; Oxford University Press Inc., NewYork; 1999)
Bài liên quan: -Âm nhạc chính là sự sắp xếp của tâm hồn - "Cái đẹp của âm nhạc" qua tai người nghe |
Khóc, xỉu vì thần tượng là lành mạnh?
Âm nhạc cổ truyền: Câu chuyện con đẻ và con chồng
Thấy và nghĩ gì về tình trạng âm nhạc Việt qua vở nhạc kịch ”Notre Dame De Paris” ?
Đĩa than có làm nên âm nhạc tử tế
Âm nhạc nơi chốn nhỏ
Dù âm ỉ, rock vẫn chưa bao giờ thôi cháy bỏng
Làm sao để có một công chúng âm nhạc tinh tế? .
Giải thưởng âm nhạc Cống hiến 2010-Một dấu ấn đang lớn dần
Giải Âm nhạc cống hiến 2010: Đợt bầu chọn cuối cùng
Nhạc thịnh hành là gì?
Thấy gì qua "Dạ tiệc Trắng" của Mr. Đàm ?